Trong Bóng Chiều Cuộc Đời

Vừa nghe tiếng tôi chào, bà đã buông lời trách móc :

– Cậu đó hả? sao lâu nay hổng chịu ghé thăm tui?

+ Dạ… con mới thăm bà hôm Chủ nhật tuần trước mà!

– Dzậy hả! mới có một tuần thôi hả? Dzậy mà tui tưởng là lâu lắm chứ! Tui mù lòa có biết gì đâu, buồn lắm cậu ơi! Có cậu dzô đây tui mừng lắm, thỉnh thoảng nhớ ghé thăm tui nghen cậu!…

Muốn cho bà vui, tôi đùa:

+ Dạ, bây giờ thì thỉnh thoảng con zô thăm bà, chứ ít bữa nữa con cũng già, rồi con vô đây ở chung với bà luôn cho vui hen

Thoáng mỉm cười hiện lên trên khuôn mặt nhăn nheo của bà. Nhưng sau đó là tiếng thở dài não ruột:

– Thôi đi cậu ơi! Cậu còn trẻ mà đã biết lo mần dziệc phước đức, thì cầu Trời Phật độ trì cho cậu, để cậu khỏi phải lâm vào cảnh như tui…

Rồi bà tiếp với cái giọng đều đều nhưng nghèn nghẹn và đầy bi phẫn:

– Sao trên đời này lại có những kẻ bất nhân như thế chứ! Khi chúng nó còn nhỏ, mồ côi bố mẹ, tui đem dzề nuôi, lo lắng chăm sóc cho tụi nó đầy đủ, tui có tiếc gì cho tụi nó đâu. Dzậy mà khi tui già, tui mù mần hổng ra tiền nữa thì bị tụi nó hắt hủi… Cậu biết không, nó đem chén cơm dằn xuống bàn trước mặt tui “Nè, ăn đi bà già mù. Đồ cái thứ báo đời!”. Bao nhiêu năm được tui nuôi dưỡng, cuối cùng tụi nó trả ơn bằng cách kêu xe xích lô tới chở tui đem đổ xuống trước cổng chùa này, như người ta trút một cái bọc rác!…

Tôi biết kí ức đang sống lại trong bà, miền kí ức đau thương và cay đắng không thể nào phai dù đã hơn hai năm trôi qua. Bà đã đi sắp hết cuộc đời làm người. Dấu ấn thời gian lưu lại trên khuôn mặt bà những nét nhăn nheo khắc khổ. Còn dấu ấn cuộc đời, lại nghiệt ngã hơn, hằn sâu trong lòng bà những vết thương không thể nào chữa lành được. Từ hai hốc mắt sâu hoắm không còn chút tinh anh của bà, đôi dòng lệ cuộn tròn, trào ra rồi chảy thành dòng qua những nếp nhăn nheo của đôi gò má xương xẩu. Vài tia nắng hắt từ khung cửa sổ đậu lại trên khuôn mặt bà, làm ánh lên hai hàng nước mắt long lanh. Mỗi lần kể chuyện cho tôi nghe bà đều ngồi yên bất động, chỉ có đôi môi mấp máy và cặp mắt nheo nheo như đang hướng về một vùng trời vô định.

Ngoài xa kia, dòng sông Sài Gòn vẫn bình yên trôi lờ lững. Lác đác vài bụi lục bình dập dềnh trôi trên sóng nước. Cánh lục bình làm tôi liên tưởng đến một kiếp người. Người ta không biết lục bình trôi từ đâu đến, và cũng chẳng ai biết rồi cánh hoa kia sẽ dạt về đâu giữa biển trời mênh mông!

Có một thời gian tôi ở trong tình trạng lao đao khi muốn đi tìm cho tương lai của mình một lối đi. Chiều chiều, tôi hay ra đứng bên dòng sông Đồng Nai, ngắm những cánh hoa trôi nổi bồng bềnh. Đem so sánh tương lai đời mình với cánh hoa lục bình, tôi thấy có cái gì đó na ná: mong manh phiêu bạt, rồi sẽ chẳng biết sẽ về đâu? Nhưng rồi cũng đến giai đoạn tôi quyết định hướng đi cho tương lai đời mình. Cánh lục bình cho tôi một bài học quý giá: cuộc đời mong manh và vắn vỏi là thế, nên tôi cần tìm cho mình một Bến Đỗ an toàn và bền vững hơn. Tìm về với Đấng là Cội Nguồn và Cùng Đích của đời tôi. Đó là căn nguyên đức tin của tôi.

Giờ đây, ngồi đối diện với bà – cánh lục bình già cỗi – tôi bỗng nhận ra Đức Tin của mình quý giá biết bao. Vâng, tôi là cánh lục bình giữa cuộc đời mênh mông. Bé nhỏ và long đong, nhưng không chập chờn vô định. Tôi dần học biết được ý nghĩa cuộc đời mình. Tôi dần học biết mình từ đâu tới và sẽ về đâu. Lúc này đây, tôi thấy lòng mình bừng lên ước ao muốn được chia sẻ cho bà niềm tin của tôi về Đấng Tuyệt Đối là cội nguồn và cùng đích của mọi loài. Tôi muốn dùng Lời Ngài để tâm sự với bà rằng: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười”.  Tôi muốn nói cùng bà về sự sống đời sau, về lòng thương xót của Đấng là Tình Yêu… nhưng buồn làm sao, những điều ấy chỉ có thể là ý tưởng! Bà đang ở trong chùa, là tín đồ của Phật giáo! Cái ranh giới Phật giáo – Công giáo tuy mong manh nhưng vẫn là cái ranh giới! Hơn nữa, nhiệm vụ của tôi lúc này, nơi này là làm chứng tá bằng chính hành động chứ không phải là bằng lời nói hay thuyết giảng… Chợt nhớ tới lời của Mẹ Têrêxa Calculta: “Truyền giáo là giúp cho người ta sống tốt với đạo của mình”, tôi hỏi bà:

+ Bà ơi, ở đây bà có hay cầu kinh khấn Phật không?

– Có chứ, tôi ăn chay niệm Phật suốt cả đời mà. Ở trong này mỗi ngày tôi còn được nghe thuyết pháp và giảng giải kinh Phật nữa.

+ Vậy sao bà không dâng hết mọi chuyện vui buồn lên cho Đức Phật?…

– Ừ thì tui buồn tui tâm sự với cậu vậy chứ, không dâng hết cho Phật thì dâng cho ai bây giờ? Có như vậy thì cái tâm mình mới tĩnh được để mà cầu kinh chứ! À, mà cậu có hay cầu kinh không?

+ Dạ, con … không biết, bà chỉ cho con đi!

– Cậu cầu như thế này nè : “Nam mô a di đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Thích Ca Mâu Ni đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn… A di đà Phật

+ Bà ơi, vậy thì thỉnh thoảng bà nhớ cầu Phật cho con với nghen!

– Ừ, .. Nam mô a di đà Phật, cầu cho cậu được bình an may mắn tai qua nạn khỏi. Cầu cho cậu có được người vợ đẹp, sinh cho cậu bảy tám thằng con trai để sau này có chỗ cậy nhờ… A di đà Phật!

Bỗng dưng lúc này tôi cảm thấy mình bé nhỏ vô cùng. Tôi, bà, và mọi người… tất cả đều là những sinh linh bé nhỏ tội nghiệp. Ai cũng cần được Ơn Trên độ trì cứu vớt. Bà cầu Phật cho tôi, còn tôi, tôi sẽ cầu nguyện cùng Chúa cho bà. Đạo là Đường. Chúng tôi đi theo hai con đường khác nhau, nhưng dường như đang nhắm về cùng một đích.

***

Từ hồi còn nhỏ tôi vốn đã không thích chùa lắm. Ở quê tôi, người ta luôn phân định rạch ròi ranh giới giữa Công giáo và Phật giáo, luôn có những cái ranh giới bất khả xâm phạm giữa xóm đạo và xóm chùa, giữa nghĩa trang của Phật giáo và nghĩa trang Công giáo. Trong tâm tưởng của tôi thời thơ ấu, các ngôi chùa với những hàng cột đen bóng, những hình bát quái với mùi nhang khói nghi ngút… dường như luôn mang cái vẻ ảm đạm và u ám. Bây giờ thì tôi mới biết cái u ám đó nằm ngay trong chính thành kiến của tôi.

Tôi đến thăm ngôi chùa này chỉ được vài lần. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ để chúng tôi làm quen và được nhiều người quý mến. Cửa chùa thì luôn rộng mở đối với mọi người! Từ sự rộng mở ấy, tôi có cái nhìn đẹp hơn về một tôn giáo bạn.

Ngôi chùa tọa lạc ngay bên cạnh bờ sông, êm đềm và tĩnh lặng. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là pho tương phật bà Quan Âm uy nghi đứng giữa sân. Pho tượng quay mặt nhìn về phía dòng sông đang hiền hòa gợn sóng. Chạy song song với bờ sông là con đường nhỏ phủ đầy bóng trúc được lát gạch tàu phẳng phiu dẫn vào ngôi chánh điện. Vòng sang phía sau ngôi điện thờ là hai dãy nhà nhỏ đơn sơ. Đó là nhà dưỡng lão của chùa, là mái ấm dành cho những người già cả cô đơn không nơi nương tựa.

Nơi đây, tôi đã học được nhiều điều và đọc thấy nhiều giá trị Tin Mừng. Đó là tấm lòng quảng đại từ bi của nhà chùa và các Phật tử hảo tâm. Họ sẵn lòng mở rộng vòng tay để tiếp nhận những người già nua cô độc. Đó là gương phục vụ vô vị lợi của các cô, các dì ở chùa đối với những người già. Họ phục vụ tận tâm từ những người bại liệt, mù loà đến những người già khó tính hay giận hay hờn…

Đặc biệt hơn, nơi những người già bị bỏ rơi, tôi tìm thấy hình ảnh của Đức Kitô nghèo hèn và cô độc, nhưng vẫn đẹp đẽ lạ thường. Họ dẫn tôi đi vào trong một thế giới khác hẳn thế giới mà tôi đang sống. Thế giới của người già chẳng chút ồn ào phức tạp, nhưng giản đơn và chân tình. Mỗi khi hết buổi làm việc chúng tôi chào tạm biệt các bà để ra về, tình cảm quý mến của các bà được thể hiện bằng cách giấm giúi gởi cho chúng tôi những gói quà nho nhỏ, những bọc kẹo, vài trái chuối… Mỗi khi từ chối, dù có khéo léo cách nào đi nữa, tôi vẫn luôn nhìn thấy nét buồn và nỗi hụt hẫng như dâng trào trong mắt các bà. Một lần, khi tôi dắt xe ra đến cổng chùa thì có một bà chạy theo, trên tay bà là vài gói mì tôm và một nải chuối. Nhìn dáng quày quả của bà, tôi xúc động lặng người, và nhận ra một điều quý giá. Con người được sinh ra không chỉ cần được yêu thương, nhưng cần có người để cho họ yêu thương. Điều ấy càng đúng với một người làm bà, làm mẹ. Thật nhẫn tâm nếu tôi lại từ chối tấm lòng của các bà, từ chối để cho mình được yêu thương!

Cũng nơi những người già này, tôi học được cái nhìn về cuộc đời đầy kinh nghiệm và đầy triết lý nhân sinh. Một lần nọ, khi đang lom khom cắt móng chân cho một bà cụ thì bà hỏi tôi “Con đạo Phật hay đạo Công giáo?”. Tôi ngước lên nhìn bà và chỉ mỉm cười. Như hiểu ý tôi, bà tiếp : “Ừ, thì bà hỏi thế thôi! đạo nào cũng tốt hết con à! Đạo nào cũng dạy mình lo làm việc lành để tích đức cho kiếp sau. Ham hố gì đâu trong cái cuộc đời phù sinh này chứ!”…Rồi bà cho tôi xem mấy tấm hình của bà chụp hồi còn trẻ “Con thấy không, hồi đó là cô thiếu nữ, bây giờ là bà già xương bọc da. Cứ tưởng như mới ngày hôm qua, vậy mà… đúng là kiếp phù sinh”. Rồi bà lên giọng ngâm nga:

Kiếp phù sinh như hình như ảnh

Có chữ rằng vạn cảnh giai không.

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Vâng, nơi đây tôi nhìn thấy cái mong manh, phù sinh của cuộc đời. Tâm sự với nhiều người, tôi thấy các bà ai cũng đã có một quá khứ với nhiều ước vọng cao xa, từng vật lộn với cuộc sống, từng muốn thu gom tích góp cho mình… nhưng rồi cũng đến thời gối mỏi lưng còng, đành buông xuôi tất cả, trả lại cho cuộc đời tất cả.

Họ lấy Phật làm lòng, tu thân tích đức để mong thoát khỏi luân hồi số kiếp. Còn tôi, tôi có Chúa là Nguồn Ơn Cứu Thoát. Thái độ cung kính và thành tâm của họ dành cho Đức Phật khiến tôi phải chạnh lòng khi đặt lại tương quan giữa mình và Chúa. Chúa của tôi đáng yêu và gần gũi biết bao! Chúa biết rõ những yếu đuối của kiếp người. Chúa biết tôi không thể tự mình vươn lên để thoát khỏi vòng tục luỵ. Chúa không để tôi phải một mình đối chọi với cuộc đời, cũng không tính sổ với tôi sòng phẳng theo kiểu trả công cho tôi dựa vào những “công đức” tôi làm được. Mọi sự có là gì đâu trước mặt Chúa! Chúa cúi xuống nâng tôi lên khi tôi cùng lùng bùng trong lũng lầy của cuộc sống. Tất cả là hồng ân. Tất cả là ơn nhưng không của Chúa… Vậy mà đã bao lần tôi thờ ơ lãnh đạm. Tôi thả hồn theo những mơ mộng phù du của cuộc đời. Thậm chí, tôi còn chỉ muốn dựa vào sức mình để bơi lái chèo chống nữa.

Cám ơn nhà chùa đã rộng tay đón tiếp chúng tôi. Cám ơn các bà đã tin tưởng và yêu mến chúng tôi. Cám ơn Chúa đã cho tôi một môi trường tông đồ tuyệt vời để nhìn ra Chúa nơi mọi người, mọi sự.

Ba Sông 12.2003

Cao Gia An, S.J.

Bên Ngoài Cổng Nhà Thờ

Cha Tâm hẹn hò với con Linh Gà ở quán cà phê Sợi Đêm. Cái tin giựt gân ấy chảy từ xóm nhà thờ xuống xóm chợ, lan qua hai bên xóm bờ kinh, tràn ra khắp xứ. Chẳng mấy chốc mà ai cũng biết. Người thương thì xua tay lắc đầu: Đồn chi mà đồn thất nhơn ác đức vậy, mắc tội chết! Cha Tâm sao lại có thể chứ! Kẻ ghét thì rung đùi lẩm bẩm: Đấy đấy thấy chưa, đã bảo mà! Chỉ được cái vẻ đạo mạo bề ngoài thôi!

Ở xứ này không ai không biết con Linh Gà. Làng xóm thường có thói quen gọi tên người đi cùng với tên nghề nghiệp, như Bà Năm Cháo là người bán cháo, Bà Sáu Bún là người bán bún. Con Linh Gà không bán gà. Nó làm gà. Có một thời người ta gọi nó là con Linh gà móng đỏ. Hình như cái tên đó dài quá, người ta gọi tắt lại là Linh Gà. Nó sống ở cuối xóm đạo, mỗi ngày cứ đi đi về về như cái gai trước mắt mọi người. Trong cái xóm đạo toàn tòng này, sự có mặt và lối sống của nó là một cái ung nhọt làm người ta nhức nhối. Có rất nhiều người lấy làm tiếc vì chỉ đẩy được nó về cuối xóm đạo, chứ không hoàn toàn nhổ bật được nó ra khỏi danh sách những con chiên của Chúa trong Giáo xứ.

Ở xứ này cũng không ai không biết quán Sợi Đêm. Đó là cái quán cà phê của xóm không có đạo, nằm sâu hun hút, vừa đủ chạm vào ranh giới ở cuối xóm đạo. Chắc nhờ mấy sợi dây điện chớp nháy nhập nhòe mỗi tối mà quán có tên Sợi Đêm. Với dân xóm đạo, Sợi Đêm là biểu tượng của cám dỗ. Cha xứ tiền nhiệm đã từng lên bục giảng cấm tiệt giới trẻ bén mảng đến cái quán ấy. Cha còn dọa sẽ ra vạ tuyệt thông cho gia đình nào để cho con cái bước chân vào cái chốn bùn nhơ tội lỗi đó.

Cha Tâm là một Cha trẻ, mới về nhận xứ được gần hai tháng. Sau ngày đi nhận Cha ở Tòa Giám Mục về, ông Chánh Trương chép miệng tự hỏi: Cha mình còn trẻ quá, liệu có thể gánh nổi cái xứ đạo có truyền thống dài hơn rất nhiều so với tuổi đời của Cha ấy không đây?

***

Cha Tâm nhìn thấy nàng lần đầu tiên vào một buổi trưa đầy nắng. Từ cửa sổ lầu hai của nhà xứ nhìn ra, hầu như có thể nhìn thấy cả con đường chính kéo dài từ đầu xứ đến cuối xứ. Nàng đi về trên con đường ấy mỗi trưa, lần nào cũng dừng lại bên ngoài cánh cổng nhà thờ cúi đầu chào Chúa trước khi đi tiếp. Từ khi Cha Tâm về nhận xứ, cổng nhà thờ đã không còn khóa chặt, để người trong xứ ai muốn đều có thể tự tay đẩy cổng mà vào nhà thờ bất cứ khi nào cần. Nhưng với trường hợp của nàng, cổng khóa hay không hình như không quan trọng. Hình như chưa bao giờ nàng có ý định đẩy cổng bước vào. Chưa bao giờ Cha Tâm gặp nàng đi Lễ. Hình như bước chân của nàng chưa bao giờ vượt quá ngưỡng của cái cổng nhà thờ.

Cha Tâm không nhìn thấy rõ mặt nàng, nhưng bị ấn tượng bởi cái dáng cúi đầu vừa rụt rè vừa thành kính bên ngoài cổng nhà thờ. Ngạc nhiên hơn khi cử chỉ ấy được thực hiện với sự trung tín đều đặn mỗi ngày. Cái dáng lẻ loi một mình của nàng giữa trưa đầy nắng chừng như chạm vào một góc nào đó trong trái tim vị linh mục trẻ. Từ ngày về nhận xứ, có thể nói Cha đã đầu tư hết sức hết lòng cho việc phát triển các đoàn thể, đẩy mạnh các phong trào, chăm lo chu đáo cho việc phụng vụ và cầu nguyện. Cha ước mong xây dựng Giáo xứ thành một mái gia đình, để ai cũng có thể bước chân vào nhà Chúa như bước chân vào mái nhà của mình. Vậy mà vẫn còn có những người bị dạt ra ngoài lề sao? Vẫn có những người dừng lại bên ngoài cổng nhà thờ sao? Còn bao nhiêu con chiên bơ vơ lạc lõng như thế? Liệu Cha đã chu toàn bổn phận mục tử chưa khi chỉ chăm chút cho những chuyện gọi là kế hoạch vĩ mô, gọi là đường hướng phát triển, gọi là tổ chức long trọng và hoành tráng? Liệu chỉ mở cổng nhà thờ, và chờ, thì có đủ để những con chiên lạc trở về không? Đã bị gọi là “chiên lạc” rồi, không có ai vẽ lối, thì làm sao biết đường mà trở về? Trong cái mô hình mà Cha gọi là “gia đình Giáo xứ”, có chỗ cho những mảnh đời sai lầm cơ nhỡ được đón nhận, được tha thứ, và làm lại cuộc đời không?

Sau một thời gian dò hỏi, Cha Tâm biết được nàng tên là Linh. Tên đầy đủ trong sổ rửa tội là Maria Trần Thị Linh, con bà Maria Trần Thị Lành. Nàng mang họ mẹ, chỗ ghi họ và tên cha bỏ trống.

Những người được Cha hỏi thăm về Linh phản ứng rất khác nhau. Mấy bà đạo đức thì giẫy nẫy khuya tay: Cái ngữ ấy Cha hỏi làm gì chứ! Mấy cụ ông thì chậm rãi, giọng chắc nịch: Cha ơi, nhà nó bị vạ tuyệt thông mấy chục năm nay rồi! Giới trẻ thì cười khích khích: Con bé đó làm gà, sống bằng vốn tự có đó Cha ơi! Chưa biết gì về cuộc đời Linh, nhưng Cha Tâm đã mơ hồ nhận ra tại sao Linh không đặt chân vào nhà thờ. Làm gì có chỗ nào cho nàng trong lòng cộng đoàn giáo xứ này! Có rất nhiều truyền thống và nề nếp vần xoay như một cái vòng khép kín, sẵn sàng hất văng ra bên ngoài bất cứ kẻ nào không khép mình vào khuôn khổ! Trong đầu Cha Tâm hiện lên rất rõ lời dụ ngôn trong Tin Mừng: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?” (Lc 15,4). Làm sao để đi? Làm sao để tìm? Đâu là giá trả để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất?

***

Ông Bảy, trưởng hội Legio của Giáo xứ, xin gặp Cha Tâm để thưa về chuyện của Linh. Câu chuyện bắt đầu từ xa lắm, khi mẹ của Linh và ông Bảy còn là bạn nối khố. Ông ngoại của Linh đã từng là ông Trùm và là một trong những cộng tác viên đắc lực nhất của Cha Cố trong những ngày lập xứ. Mẹ của Linh là con gái một, được tiếng là đẹp người đẹp nết. Từ nhỏ, mẹ của Linh đã tham gia ca đoàn. Giọng ca ngọt như mật và gương mặt thiên thần của cô bé đã làm chết mê chết mệt không biết bao nhiêu trái tim của các chàng trai trong xứ. Nhưng ông bà ngoại của Linh thì muốn con gái một của mình sẽ dâng mình cho Chúa. Cả đời ông bà đã cống hiến cho việc phục vụ nhà thờ nhà thánh, ông bà ước mong con gái mình cũng thuộc về Chúa. Vậy là cả cuộc đời trọn vẹn của lễ dâng.

Mọi ước nguyện tốt lành vỡ vụn khi cái bụng của con gái ông bà Trùm bỗng nhiên phình ra ngày một to, không che giấu vào đâu được. Có gặng hỏi hay tra khảo thế nào thì mẹ của Linh cũng nhất định không mở miệng cho biết ai là tác giả của cái bào thai. Để làm gương răn đe những người trẻ trong xứ, Cha Cố cấm không cho cô vác bụng đến nhà thờ, cấm không cho xưng tội rước lễ. Người ta thôi gọi ông bà ngoại của Linh là ông bà Trùm. Thay vào đó là những cái bĩu môi, những lời mỉa mai, những câu chửi xéo đầy ẩn ý. Ông bà ngoại của Linh hoàn toàn sụp đổ. Họ dời nhà vào trong sâu, ở cuối xóm đạo, lây lất sống trong câm lặng và lần lượt chết trong đắng cay tủi hổ.

Năm Linh được mười ba tuổi thì mẹ nó chết. Bà chết đúng như cách bà đã sống: bên rìa của cuộc sống. Không một ai lui tới thăm nom, cũng không một ai kinh kệ cầu nguyện cho kẻ bị coi là đã mất linh hồn. Bà được chôn bên rìa nghĩa trang xóm đạo, trong khu đất dành cho những người đã chết mà vẫn còn vương mắc tội vạ chưa được tha giải, như những người tự tử, những kẻ công khai ngoại tình…

Rồi mọi chuyện chìm vào im lặng. Không ai biết Linh đã lớn lên như thế nào. Cũng không ai biết tại sao nó theo cái nghề đáng bị xỉ vả và nguyền rủa như thế. Khi người ta kịp mơ hồ nhận thấy, nó đã bung ra như một cái ung nhọt vô phương cứu vãn. Thoáng một chốc, cái cơ duyên của mọi sự hất hủi năm nào bỗng vặn mình lớn lên trong vóc dáng đầy đặn của một cô thiếu nữ. Linh mang gương mặt giống hệt của mẹ, chỉ khác ở thái độ lầm lì và bất chấp. Từ đầu xóm tới cuối xóm, nó cứ khinh khỉnh ngẩng mặt mà đi, như thể muốn tuyên bố với cả thế giới rằng đã không ai nuôi được nó ngày nào thì cũng chẳng ai có quyền chen vào cuộc sống riêng của nó. Cái đầu của nó chỉ cúi xuống, rụt rè và thành kính, mỗi khi đi ngang qua nhà thờ. Chỉ mỗi một chỗ đó thôi!

Ông Bảy kết thúc câu chuyện dài về cuộc đời của Linh khi ngoài hiên nhà thờ bóng chiều vẫn đầy nắng. Nhà thờ vẫn vang đều đặn tiếng kinh chiều của hội đoàn Dòng Ba và Giới Hiền Mẫu.

Cha Tâm nghe lòng mình nghẹn đắng. Tính ra thì giá trả cho một sai lầm trong thời tuổi trẻ của mẹ Linh là sự hủy hoại của cả ba thế hệ. Nếu người mắc sai lầm đáng bị gọi là tội nhân, thì tội nhân đã ôm tủi hổ xuống mồ, bố mẹ của tội nhân thì cho đến chết cũng đã không dám ngước mặt nhìn đời, con của tội nhân thì không có cơ hội để sống một cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác. Đáng không? Do đâu mà ra cái bể trầm luân như thế? Còn có cơ hội nào để tìm và cứu những gì hư mất không?

***

Cha Tâm bày tỏ không giấu giếm mối quan tâm đặc biệt của mình đối với trường hợp của Linh. Cha ra bài sai cho ông Bảy và mấy thành viên trong hội Legio đến thăm viếng và tìm cách nói chuyện với nàng. Sau một thời gian rất dài, một buổi trưa đầy nắng, Linh xuất hiện trước cổng nhà thờ. Sau khi cúi đầu chào Chúa, nàng đứng lại thật lâu, bên kia cánh cổng, chờ đợi. Nhác thấy bóng Cha Tâm vừa xuất hiện, nàng buông gọn một câu thách thức:

– Cha khỏi cần phải tốn công gởi người đến thăm dò con nữa. Con biết là Cha muốn nói chuyện với con. Nhưng con đã hứa là sẽ không bao giờ đặt chân một bước vào nhà thờ này đâu. Chiều nay Cha có dám gặp con ở quán cà phê Sợi Đêm không?

Sau câu thách thức, nàng quay lưng đi thẳng. Nghe chuyện, ông Bảy và mấy người trong Legio thấy tức rực. Cái con… nói chuyện với Cha kiểu gì mà… Nhưng Cha Tâm không xem đó là thách thức. Cha gọi là hẹn hò. Gương mặt Cha nhìn về phía ông Bảy, tươi rói như người sắp bắt được của:

– Chiều nay ông Bảy đi với tôi nhé!

***

Đường vào quán cà phê Sợi Đêm tưởng ngắn mà dài và sâu hun hút. Cây cối hai bên rậm rịt, giây điện giăng ngang dọc như tấm mạng nhện tủa ra tứ phía. Quán chiều vắng khách. Từ mấy cặp loa ẩn trong hốc cây, bài nhạc vàng cứ vang ra nhừa nhựa “Ta lần mò leo mãi, không qua được vách sầu…”.

Linh ngồi sẵn đợi Cha ở cái bàn nằm ngay lối vào:

– Cha để con chờ lâu quá, cứ tưởng là Cha không đến…

Đó là câu chào của Linh, mở đầu cho một cuộc nói chuyện diễn ra kỳ lạ lắm.

–  Linh hẹn Cha đến đây, có chuyện gì muốn nói với Cha không?

–  Dạ không. Con chẳng có chuyện gì để nói!

–  Vậy sao lại hẹn Cha?

–  Là con làm theo lời mẹ con thôi…

–  Mẹ con?

– Dạ. Trước khi chết mẹ dặn con đừng có bỏ nhà thờ, giống mẹ. Mẹ nói Cha này không cho vào nhà thờ, biết đâu có Cha khác lại cho. Mẹ cứ chờ một “Cha khác” hoài, nhưng không chờ được. Vậy là mẹ chết. Mẹ biểu con tiếp tục chờ. Cha để con chờ lâu quá, cứ tưởng là Cha không đến…

– Cha đến xứ này đã hơn hai tháng rồi. Lúc nào Cha cũng ở trong nhà thờ mà. Sao con không đến tìm Cha?

– Con không đến! Đâu có chỗ cho con trong cái nhà thờ ấy mà đến…

– Có mà. Cha thấy có tên con trong sổ rửa tội, nghĩa là con vẫn là một thành viên trong giáo xứ này. Con đã được rửa tội rồi mà, phải không?

– Tại lúc đó người ta ẵm ngữa con vào nhà thờ để rửa tội. Mẹ nói ân huệ đó là để cứu rỗi linh hồn con. Đó là lần đầu tiên, tới giờ cũng là lần cuối cùng con vào nhà thờ

– Cha thấy lần nào đi ngang nhà thờ con cũng dừng lại cúi đầu chào Chúa, là mẹ dạy con, phải không?

– Dạ, mẹ biểu con hứa. Mẹ nói trong nhà thờ của giáo xứ không có chỗ dành cho mình, nhưng hy vọng mình có chỗ trong nhà của Chúa… – Im lặng một chút, Linh lại tiếp – Nhà thờ của mình to và đẹp như vậy sao lại không có chỗ? Hồi nhỏ con không hiểu đâu. Lớn lên, từ từ con mới hiểu đó Cha…

***

Người ta lại kháo nhau chuyện Cha Tâm thương con Linh Gà một cách đặc biệt. Tuần nào cũng hẹn hò với nó. Có ông Bảy trưởng hội Legio làm chứng. Nghe đâu Cha ấy còn muốn mở đường cho nó vào nhà thờ, còn tính chuyện cho nó xưng tội và rước lễ nữa chứ, thật là chẳng còn ra thể thống gì! Đúng là tuổi trẻ ngang tàng, cứ im ỉm mà làm, chẳng có quy cũ nề nếp gì hết! Loạn, loạn rồi…

Lâu lâu, người ta cũng hay kể cho nhau nghe về bài giảng kỳ lạ của Cha Tâm.

Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha…”

Thưa quý ông bà và anh chị em

Bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe dài quá. Không biết có ai đủ kiên nhẫn để nghe cho tới đoạn kết không? Chúng ta thường gọi đây là dụ ngôn đứa con hoang đàng. Thật ra, đứa con hoang đàng chỉ là một nhân vật trong dụ ngôn thôi. Còn một nhân vật khác nữa, ở phần kết. Người cha trong dụ ngôn có tới hai đứa con, nhưng hình như chúng ta chỉ để ý tới một mà quên mất một. Phải để ý cả hai thì chúng ta mới thấy đây là câu chuyện về sự đổ vỡ trong tình anh em. Chừng như hai người không thể nào ở chung dưới một mái nhà. Người này ở lại thì người kia dứt áo ra đi. Người kia trở về thì người này kiên quyết không chịu vào nhà. Người Cha phải làm sao đây? Có thể làm gì được đây? Cảnh huynh đệ không nhìn mặt nhau sẽ còn phải kéo dài đến bao lâu nữa đây?

Người ra đi, bị gọi là kẻ tội lỗi, kết cục bước vào ở trong nhà của Cha. Còn người ngày ngày ở lại trong nhà Cha, tự xem mình là kẻ công chính, cuối cùng lại tự đặt mình ở ngoài cổng. Chúng ta gặp mình trong nhân vật nào? Người con thứ hay người con cả? Hay cả hai? Đâu là chỗ của chúng ta, trong nhà hay ngoài cổng?

Rốt cuộc, liệu người con cả có bỏ lại mọi thứ ở bên ngoài, để bước vào nhà, vui với Cha và với em của mình không?

Cao Gia An, S.J.


%d bloggers like this: