Thầy biết con yêu mến Thầy (2)

Chương I: GẶP GỠ

“Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ,
những người đánh cá đã ra khỏi thuyền
và đang giặt lưới”
(Lc 5,2)

Gioan

Tôi ngỡ ngàng trước giây phút họ gặp nhau. Giây phút Người đặt chân xuống thuyền của anh ấy, tôi biết, có một điều gì đó thật lớn lao đang làm thay đổi trọn vẹn cuộc đời của chúng tôi. Từ rất lâu rồi, tôi đã nghĩ rằng cuộc sống này không dành cho chúng tôi. Cuộc sống này chỉ là cái gì đó tạm bợ, và vùng biển hồ này chẳng thể nào đủ rộng để giữ chân chúng tôi được.

Khi một con người vĩ đại đang ngủ, cần một con người vĩ đại khác lay tỉnh.

Anh ấy là một con giao long đang trầm mình giữa vũng biển hồ nhỏ nhoi. Một vùng biển hồ nhỏ nhoi này làm sao đủ để anh ấy có thể thỏa sức vẫy vùng. Anh ấy được sinh ra cho một cuộc sống khác, cho một ơn gọi khác.

Chúng tôi là bạn của nhau từ thời niên thiếu. Làng Na-khum của chúng tôi, ngôi làng may mắn mang tên Do-thái của một vị ngôn sứ trong Kinh Thánh, tọa lạc bên bờ Bắc của Biển Hồ, là một hải cảng sầm uất với nghề đánh cá. Sự no ấm của cả làng bắt nguồn từ những chiếc thuyền đầy cá. Mỗi sáng sớm, chúng tôi thức giấc khi mặt trời vẫn còn ngủ vùi. Tiếng gọi nhau trên bãi. Tiếng mái chèo khua nước. Tiếng người hò nhau kéo lưới. Tiếng chợ. Tiếng cười vỡ ra giòn tan khi ánh nắng đầu ngày xuất hiện. Cùng với ánh sáng từ trời, chúng tôi đón vào đời mình sự ấm no và bình yên đến từ những chiếc ghe thuyền đầy tôm cá.

Nghề đánh cá khiến ngôi làng của chúng tôi thay da đổi thịt mỗi ngày. Lúc này, mặc dù người ta còn gọi địa phương chúng tôi là Kfar-Na-khum, làng Na-khum, nhưng thực chất chúng tôi đã là một tiểu trấn phồn vinh. Chúng tôi là nơi đến của những thương gia, là đất sống của những người làm nghề thu thuế. Nơi này, như rất nhiều đô thị khác dưới quyền bảo hộ của Đế Quốc Ro-ma, không thiếu những cô gái điếm và những người tội lỗi bị xã hội khinh miệt và xa lánh. Để gìn giữ an ninh trật tự, người Ro-ma đặt một binh đoàn dưới quyền chỉ huy của một viên đại đội trưởng.

Làng của chúng tôi được thành lập bởi vương triều Has-mo-ne-an. Thật ra, trên bản đồ của toàn bộ vùng đất này, quê hương xứ sở của chúng tôi chỉ là một rẻo đất nhỏ xíu và vô danh vô phận. Sự bình yên hay biến động trong đời sống chúng tôi hoàn toàn phụ thuộc vào những biến chuyển trong lòng các Đế Quốc lớn bao đời làm những kẻ xâm lăng và thôn tính. Ai-cập. Át-sua. Ba-by-lon. Ba-tư. Hy-lạp. Và lúc này là Rô-ma. Vào khoảng giữa thời kỳ chuyển giao giữa Hy-lạp và Ro-ma, chúng tôi đã được hưởng nếm một giai đoạn độc lập ngắn ngủi, đến từ chiến thắng sau cuộc nổi dậy của những anh hùng dân tộc thuộc gia đình Mác-ca-bê. Họ là những người lập nên triều đại Has-mo-ne-an hiển hách. Mặc dù giai đoạn độc lập ấy chỉ thoáng qua. Nhưng theo cách của một tia chớp giữa màn đêm, họ đã thắp lên giữa lòng những người yêu nước một ngọn lửa âm ỉ chỉ chực bùng cháy. Đã có rất nhiều người trẻ như chúng tôi chọn con đường quá khích, sẵn sàng dùng bạo lực để đạt đến lý tưởng giải phóng dân tộc.

Nhưng đó không phải là lựa chọn duy nhất.

Có những người không quan tâm đến biến chuyển đổi thay của thời thế, rút lui về sa mạc để sống thành những cộng đoàn khổ chế và nhiệm nhặt. Họ cầu nguyện và hy vọng chính Thiên Chúa sẽ can thiệp, như chính Người đã nhiều lần đích thân can thiệp vào giữa dòng lịch sử của dân tộc chúng tôi.

Cũng có những người chấp nhận đặt chân vào chốn nhiễu nhương, chọn con đường dấn thân và cộng tác với chính quyền thống trị, để xây dựng xã hội và tìm mưu ích cho dân tộc.

Không phải là không có những kẻ cơ hội, như những người thu thuế, sẵn sàng bắt tay với ngoại bang để bóp chẹt và bòn rút trên xương máu của dân tộc mình.

Nhưng mặc kệ những biến động của chính trị và bao thế lực ngoại xâm. Với chúng tôi, những người chài lưới mới thật sự là những anh hùng và là biểu tượng của nguồn sống. Họ ra đi trong đêm, vật lộn với những cơn sóng biển, dò tìm để mang về sự sống và ấm no. Họ là biểu tượng của sức mạnh, của no ấm, và là kết tinh của những gì đáng tự hào. Thế nên nếu phải dựng tượng cho ngôi làng của mình, chúng tôi sẽ khắc tượng một người chài lưới thân hình cuồn cuộn cơ bắp và ánh mắt sâu thăm thẳm. Họ đẹp hơn cả những chiến binh Hy-lạp, và oai phong hơn nhiều so với binh lính Ro-ma lúc nào cũng xúng xa xúng xính trong những bộ quân phục lòe loẹt.

Anh ấy là thủ lãnh của chúng tôi, những kẻ làm nghề chài lưới đánh cá.

Nhà anh ấy ở kế bên bờ Biển Hồ, trên con đường chính nối từ bến cảng về trung tâm ngôi làng. Đó là một ngôi nhà rộng với một khoảng sân rất rộng, là nơi lui tới thường xuyên của bạn bè và người quen. Bộc trực, thẳng thắng, và chân tình là những nét tính cách rất đặc trưng của anh ấy. Nhờ vậy mà nhà anh ấy lúc nào cũng đầy bạn bè lui tới.

Kế bên nhà anh ấy là một Hội Đường tráng lệ. Cần phải nói rằng chúng tôi là những người kính thờ Đức Chúa. Trong làng của chúng tôi, những người được xem là đàn ông thực sự không phải là những kẻ lúc nào cũng chỉ biết vung vít với sức mạnh của nấm đấm. Đàn ông là người đại diện cho toàn dân trong những buổi cầu kinh của Hội Đường. Họ là gương mặt, là giọng nói, là số phận của dân tộc chúng tôi. Dù có là những kẻ đầu đội trời chân đạp đất, bước chân vào đến Hội Đường, trên đầu họ là những chiếc mũ kip-pa, loại mũ không vành nhỏ bé vừa bao gọn vòm đầu, là biểu tượng của bàn tay che chở mà Đức Chúa đặt trên chúng tôi và cha ông chúng tôi qua suốt dòng lịch sử. Dòng lịch sử ấy dạy chúng tôi rằng, người đàn ông thực sự không phải là kẻ chỉ biết đứng thẳng ngẩng cao đầu, nhưng là người biết quỳ gối và kính sợ Đức Chúa.

Thế nên chúng tôi không có gì phải ngỡ ngàng khi thấy anh ấy quỳ gối phủ phục trước mặt Người. Vòng tay ôm lấy trọn chân Người, anh ấy thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Trong cơn bối rối và kính sợ, anh ấy đã sống rất thật với chất trẻ trong mình. Anh ấy ôm chặt thế, bảo Thầy tránh đi đâu được! Chắc là trong cơn hân hoan quá độ, anh ấy đã bối rối không biết mình đang nói gì. Thật ra, anh ấy đâu có muốn Thầy tránh xa. Có lẽ anh ấy muốn nói thế này: Lạy Thầy, con là kẻ tội lỗi, xin đừng tránh xa con…

“Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta như bắt cá!” – Người đã đáp lời anh ấy như thế. Bắt cá là nghề của anh ấy, cái nghề đã lớn lên từng ngày và đã làm nên cuộc đời của anh ấy. Giờ thì anh ấy có một nghề mới: thu phục người ta. Thật kỳ diệu, nghề mới của anh ấy lại được so sánh trên nền của cái nghề cũ.

Tôi bỗng giật mình nhớ lại câu đầu tiên mà Người nói với anh: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá!” Từ khi đón Người vào nhà mình, sứ mạng của anh ấy là chèo ra chỗ nước sâu. Anh ấy đã đáp lời Người thật dễ thương làm sao: “Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới.”  Ngay lập tức anh ấy làm một cuộc mạo hiểm ra chỗ nước sâu, và tất cả chúng tôi đều bị cuốn theo vào cuộc mạo hiểm ấy.

Cuộc mạo hiểm làm thay đổi trọn vẹn tương lai và vận mệnh cuộc đời của chúng tôi.

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: