Dành Riêng

 

Đã có lúc hắn nghĩ rằng bi kịch cuộc đời nằm ở chỗ hắn thích đi tu từ nhỏ. Cả nhà ai cũng biết và thích cái ý thích của hắn. Thế là tự nhiên hắn trở thành kẻ được dành riêng. Đi đâu, làm gì, ở đâu, với ai, hắn đều được chăm sóc đặc biệt. Ai cũng ra sức vun đắp, để xây dựng hắn thành một ông Cha tương lai.

Muốn làm ông Cha thì không được ngủ nướng. Sáng sớm, vừa nghe tiếng chuông đồng hồ là hắn phải lồm cồm bò dậy, dù trong lòng còn vô cùng tiếc nuối cái giường êm và cái mền ấm.

Muốn làm ông Cha thì phải tập đĩnh đạc và đạo mạo chứ không có cái kiểu chạy nhảy ồn ào lung tung. Vậy nên hắn thường chỉ có thể thèm thuồng đứng từ xa nhìn đám bạn tung tăng hò hét.

Muốn làm ông Cha thì phải để ý lời ăn tiếng nói. Chỉ cần lỡ lời dùng một vài câu tiếng lóng học được đâu đó từ đám bạn bè, là hắn bị cả nhà bủa vây chỉnh đốn cho tới nơi tới chốn.

Muốn làm ông Cha thì phải siêng năng đi lễ đọc kinh và cầu nguyện. Ông Cha đâu chỉ có làm lễ mỗi tuần một lần vào ngày Chúa nhật. Ngày nào ông Cha cũng phải làm lễ. Vậy nên hắn phải tập thói quen ngày nào cũng đến nhà thờ. Chỉ cần hắn nhơm nhớm lân la với mấy cái lý do đại loại như: hôm nay tri mưa quá! Hay, hôm nay con mt quá!… là ngay lập tức hàng trăm cái lý do khác dồn dập đổ vào hắn: ông Cha thì không làm biếng, ông Cha thì không được đổ thừa lý do này lý do kia, ông Cha thì phải đạo đức thánh thiện…

Từ ngày công khai bày tỏ ý định thích đi tu, hai cái lỗ tai của hắn cứ đầy lên với bao nhiêu là điều mà “ông Cha thì phi”“ông Cha thì không được”. Đã có lúc mệt quá, hắn giơ hai tay lên, kêu: Tri ơi, ch là mun đi tu thôi mà, phi kh vy sao!

Kêu thì kêu vậy thôi, chứ thực lòng hắn vẫn thích đi tu lắm, thích làm ông Cha lắm. Chỉ cần nghĩ tới chuyện lớn lên được mang trên mình cái áo dòng đen, một tay ôm quyển Sách Thánh, một tay cầm xâu chỗi Mân Côi, đi qua đi lại ngoài hiên nhà thờ…. là tâm hồn hắn đã mê mẩn.

Con nít thì luôn có khả năng hy sinh nhiều thứ để đạt được điều làm mình mê mẩn. Chẳng hạn, để mua được một quyển truyện tranh mà mình thích, con nít có thể hy sinh làm nhiều chuyện lắm, như là sẵn sàng hy sinh nhịn ăn sáng hàng tuần để tiết kiệm tiền, hoặc sẵn sàng hy sinh đội mưa đội nắng đi mò cua bắt ốc ngoài đồng.

Vì mê mẩn với ước mơ được làm ông Cha, hắn sẵn sàng hy sinh nhiều niềm vui bình thường của một đứa con nít để bắt đầu tập sống cuộc đời được dành riêng của một người đi tu. Hắn tập sống như một ông Cha, trước khi tự đặt cho mình những câu hỏi khó trả lời, đại loại như: liệu Chúa có chọn mình không? Hay, liệu Chúa có muốn dành riêng mình không? Những câu hỏi đó, sau này, lớn lên, khi được học đôi chút về điều gọi là phân định ơn gọi, mới làm cho hắn đau đầu và trằn trọc mất ngủ.

Nhưng càng lớn hắn càng khám phá ra rằng muốn sống như một người được dành riêng thật chẳng dễ tí nào.

Người được dành riêng là người mất rất nhiều những cái chung.

Bước vào thời sinh viên, hắn bắt đầu nộp đơn vào nhà Dòng để xin tìm hiểu ơn gọi. Hắn được gởi ở trong một nhà xứ gần trường, thay vì được ở chung trong ký túc xá với bạn bè. Bạn bè ai cũng khen hắn điềm đạm và có cốt cách. Chỉ có hắn mới biết cái giá của việc gọi là điềm đạm và cốt cách ấy là hắn chẳng thể nào tham gia vào mấy cái trò quậy phá nhố nhăng mà vui rầm trời của bọn bạn bè cùng lớp. Chỉ có hắn hiểu cái cảm giác tiếc ngẩn ngơ khi không được vui tới bến với bạn bè trong những đêm hội hè lửa trại. Chỉ có hắn mới là người phải sống những nghịch lý của kẻ được dành riêng giữa một đám đông bạn bè. Chỉ có hắn mới phải cảm nếm tính tạm bợ và vay mượn của những niềm vui rất đỗi bình dị đời thường…

Những ngày cuối tuần, bạn bè được nghỉ ngơi, mọi người rủ nhau đi vui vẻ tiệc tùng và hát Karaoke. Hắn thì một mình đạp xe đạp về nhà Dòng để tiếp tục chiến đấu với bao nhiêu là những môn học khác, như nhân bản, tâm lý đời tu, trưởng thành tâm cảm, vân vân và vân vân. Con đường hắn đi về nhà Dòng mỗi cuối tuần bao giờ cũng là con đường ngược gió. Gió từ bên ngoài và gió nổi lên cả từ bên trong lòng hắn. Hắn vui và vẫn nuôi rất nhiều thao thức với hành trình dành riêng mà hắn đang đi. Nhưng thỉnh thoảng hắn cũng dừng lại, tự làm cho mình đau đầu với rất nhiều câu hỏi, kiểu như: a, mình đang đi đâu, đang làm gì vy ta? a, sao mình phi khác người vy ta? a, con đường phía trước s dn mình ti đâu đây ta? Liu mình còn đi tiếp trên con đường này được bao lâu na vy ta?…

Sống như người được dành riêng, hắn phải kỹ lắm. Không chỉ trong cách sống hay trong lời ăn tiếng nói, hắn phải kỹ ngay cả trong ánh nhìn và trong tư tưởng của mình nữa. Có nhiều ánh mắt đọng lại nơi hắn hơi lâu. Hắn biết chứ, vì hắn không phải là người gỗ. Chuyện đó cũng bình thường đối với những người ở tuổi của hắn thôi. Những ánh mắt sâu thăm thẳm và buồn vời vợi cứ lần lượt đặt vào hắn, rồi trượt đi. Hắn để cho trượt đi. Vì hắn biết, chỉ cần để cho hai ánh mắt gặp nhau, dừng lại với nhau hơi lâu một chút thôi, chắn hắn sẽ chìm mất trong cái thăm thẳm và buồn vời vợi ấy… Trong giờ hồi tâm mỗi tối, hắn cứ tự dặn mình phải tập nghiêm túc và trong sáng hơn trong ánh nhìn, trong những tư tưởng vơ vẩn mà mình cưu mang. Tại hắn được dành riêng.

Ngày đầu tiên chính thức được đặt chân vào nhà Dòng, hắn đã đứng tần ngần trước tấm biển thông báo: “Khu vc dành riêng, xin min vào”. Chỉ là tần ngần một chút vậy thôi, rồi hắn hùng dũng đẩy cửa bước vào. Bởi hắn biết, đó là khu vực dành cho hắn, cho những cuộc đời được dành riêng. Hắn thấy lòng mình hạnh phúc gì đâu!

Có một lần hắn có bạn đến thăm. Hắn gặp lại ánh mắt thăm thẳm và buồn vời vợi đã trượt qua đời hắn ngày xưa. Ánh mắt ấy giờ đã đặt vào một người khác, người được bạn giới thiệu là bạn của bạn. Hắn và họ nói chuyện với nhau, vẫn gần gũi và thân thương như ngày nào. Kết thúc cuộc viếng thăm, người ta chở nhau hòa mình vào phố thị. Hắn một mình quay bước vào lại nhà Dòng, về lại với căn phòng riêng của hắn, về lại với nhịp sống đều đặn của đời tu, về lại với cuộc đời của người đã được dành riêng…

Nhà Dòng của hắn nằm gần bên rìa của phố thị. Âm thanh của thành phố không quá gần cũng không quá xa so với nhịp sống tĩnh lặng của hắn. Mỗi lần đêm xuống, đèn lên, hắn rút lui đời mình vào một khoảng tĩnh lặng và thanh vắng. Tối, sau khi với tay tắt ngọn đèn đọc sách, căn phòng nhỏ của hắn trở nên rộng thênh thang, tan vào màn đêm không biên giới. Đó là lúc hắn cảm nghiệm rất rõ cuộc đời được dành riêng của mình. Ngoài kia, rất nhiều những âm thanh vọng vang từ đường phố: tiếng cười nói, tiếng xe cộ, tiếng nhạc xập xình… Trong này, chỉ một mình hắn lặng lẽ. Giữa những phồn hoa đô hội của cuộc sống, một ranh giới rất rõ ràng được dựng lên cho hắn, trong đêm.

Sáng sớm, hắn thức dậy khi cả thành phố hãy còn ngủ vùi, khi đất trời còn mờ tối và sương đêm còn bãng lãng. Khi những ánh nắng đầu tiên vừa ló rạng, hắn ngẩng đầu nhìn lên, hướng lòng mình lên, để cho cả cuộc đời mình được dọi sáng và sưởi ấm trong ánh nắng ban mai tinh khiết.

Tự nhiên hắn thấy cuộc đời mình đẹp.

Hắn thấy diễm phúc vì mình sống hạnh phúc cuộc đời của người được dành riêng.

Hắn thấy mình may mắn lắm, vì thích đi tu từ hồi còn nhỏ…

 

Cao Gia An, S.J., Tập Truyện Ngắn “Bên Ngoài Cổng Nhà Thờ”  – 2019

Tầm Xuân Giữa Phố

 

Cô gái bước vào, sau cái bóng của thằng Sơn đầu gấu. Cái đẹp đơn sơ hoang dại của cô làm hắn điếng hồn. Ngay từ cái khẩu âm đầu tiên, hắn đã nhận ra cô là đồng hương. Ở phố núi nơi hắn xuất thân cái giọng nói lạ lắm, không lẫn vào đâu được.

Nhưng hắn không hiểu tại sao cô lại bước sau cái bóng của thằng Sơn đầu gấu. Cô cười nói tỉnh bơ với đám bạn của thằng Sơn. Thằng Sơn thì hếch mặt vênh váo. Cái vênh cố hữu trên mặt nó, như muốn thách thức cả thế giới, được dặm thêm bởi cái hếch tự mãn, như của kẻ vừa mới chài được con mồi béo bở.

Thằng Sơn là con của một đại gia kinh doanh bất động sản có máu mặt ở thành phố này. Là nhân viên phục vụ tại một trong những quán bar mà thằng Sơn được gia đình trao cho quyền làm chủ, hắn hiểu thằng Sơn thuộc loại nào. Và hắn cũng hiểu quá rõ số phận của những cô gái chấp nhận bước sau cái bóng của Sơn.

Vậy mà cô vẫn cười cười nói nói. Trên cái ngơ ngáo của gương mặt cô, hắn nhận ra chút ngơ ngác của người lần đầu tiên đặt chân đến chốn này. Như cái ngơ ngác của một cây hoa dại bị người ta bứng về trồng giữa vườn. Như một nụ Tầm Xuân lạc loài giữa xô bồ phố thị.

Cái đẹp của cô kéo hắn lại gần. Mà cũng có thể là cái chất giọng của cô khiến hắn không thể đứng nhìn từ xa:

–    Xinh lẫu, anh chị ún gì?

Hắn cố tình lên tiếng bằng chính cái giọng quê không cần chỉnh sửa của mình. Từ ngày lên thành phố, đây là lần đầu tiên hắn khoe cái giọng đặc sệt quê mình mà không hề lúng túng ngượng nghịu. Chắc chắn cô gái sẽ nhận ra hắn là đồng hương. Biết rằng ở thành phố này, chỉ một từ “đồng hương” thôi thì làm sao đủ để có thể kéo người ta lại gần nhau. Nhưng hắn vẫn muốn thử.

Thoáng giật mình vụt qua trên khuôn mặt cô gái. Chỉ một thoáng khựng thôi, nhưng hắn nghĩ mình có hy vọng.

2.

Anh ta không nên thuộc về nơi này. Cũng như cô, cô không thuộc về nơi này. Suýt chút nữa thì cô đã bị đẩy bật ra ngoài ngay từ khi mới đặt chân vào cái không gian đặc quánh khói thuốc và dập dồn tiếng nhạc. Anh tiến lại gần cô từ đâu đó trong vùng chập chờn ánh sáng, khi mắt cô còn chưa kịp quen với cái không gian mập mờ hỗn loạn của quán. Giọng nói của anh cất lên sát bên tai làm cô giật mình. Nhưng ánh mắt của anh mới khiến cô rung động và tin cậy ngay từ cái nhìn đầu tiên. Trong một thoáng, cô nghĩ rằng mình hiểu được thông điệp ẩn chứa đằng sau ánh mắt thương cảm không cần che giấu kia. Chừng như ánh mắt ấy là điều cô muốn đi tìm khi băng cả ngàn cây số đến thành phố này. Tự nhiên thành phố trở nên không còn quá xa lạ, và cô đã không còn quá lạc loài…

3.

Cô đến quán ấy thường xuyên hơn. Lúc nào cũng bước sau cái bóng của thằng Sơn đầu gấu. Có một phút lơ đãng, hắn chạm vào mắt cô. Chỉ vậy thôi mà hắn có cảm tưởng như mình vừa chạm vào một khoảng trời mênh mang nào đó. Sau một chuỗi cười dòn tan, hắn nghe rất rõ tiếng thở dài của cô như bật lên từ vô thức. Tiếng thở của một đóa Tầm Xuân lạc loài.

Hình như giọng nói của hắn làm cô chú ý, và ánh mắt của hắn làm cô gái giật mình. Nhưng chỉ vậy thôi liệu có đủ để kéo cô ra khỏi cái vũng bùn mà cô đang từng bước đặt chân vào không? Liệu hắn, một thằng tiếp viên quèn, có thể đóng vai anh hùng giải cứu mỹ nhân như trong những phim cổ trang kiếm hiệp không? Trong cái thế giới hỗn tạp này, hắn đã chứng kiến quá nhiều những đóa hoa bị giày vò hủy hoại. Lòng hắn nhói lên cách kỳ lạ. Hắn không hiểu tại sao cô bé ngây thơ phải cúc cung đi theo cái thằng ăn chơi bạt mạng như thế. Là hắn đa sầu đa cảm ư, hay định mệnh run rủi cho hắn gặp cô, để ngay từ giây phút đầu tiên hắn đã mơ hồ nhận ra một sợi dây vô hình đang từ từ trói chặt hai cuộc đời vào nhau. Và hắn đã không thể rời mắt khỏi cô. Trong thế giới hỗn tạp này, hắn biết, chỉ cần rời mắt khỏi nhau một chút, là người ta có thể sẽ vĩnh viễn lạc mất nhau thôi.

4.

Sơn bắt cô uống rượu. Hắn bảo muốn làm dân chơi sành điệu như bọn hắn, bài học đầu tiên cô phải trải qua là uống. Cô không hiểu tại sao người ta lại thích uống cái thứ chất lỏng cay nồng ấy. Để tìm chút say nồng của hưng phấn và kích thích chăng? Ngày xưa, vào một đêm mưa gió, có lẽ cũng vì chút hưng phấn nhất thời như thế mà cha cô mới quyết định ở lại cái phố núi buồn hiu hắt với mẹ cô. Tỉnh dậy sau cơn say, người đàn ông nhận ra mình không thuộc về nơi ấy. Vậy là chỉ sau một đoạn đời ngắn ngủi, ông xách gói trở về với những phồn hoa của phố thị. Ông mang theo cả trái tim, tuổi xuân và sức sống của một cô sơn nữ chung tình. Mẹ của cô đã bám vào ông như cây Tầm Xuân bám vào thân chủ để sống. Mất chỗ bám, mẹ cô chấp nhận sống phần còn lại của cuộc đời mình trong mỏi mòn héo hắt. Cô thì không. Tầm Xuân mang trong mình sức sống của núi rừng hoang dại. Cái sức sống đó đâu dễ gì bị bóp nghẹt.

Vậy nên cô mới tìm đến thành phố này. Vậy nên cô mới gặp Sơn…

Vậy nên bây giờ cái mặt cô mới phải khổ sở nhăn nhó khi dòng chất lỏng vừa nóng vừa cay chảy tuột vào cổ họng. Cả bọn bạn của thằng Sơn đập bàn cười khoái chí với những biểu cảm trên mặt cô. Chiếc ly vừa rỗng lại được rót đầy. Sau ly thứ ba, đầu óc cô bắt đầu chếch choáng và mụ mị. Mọi thứ hoa lên trước mắt cô. Trong giây phút đó, cô nhớ mình còn kịp đưa mắt nhìn về phía anh cầu cứu. Hình như cô chạm được vào ánh mắt của anh. Hình như anh tiến về phía cô. Hình như anh tình nguyện rót rượu cho bọn họ. Cách khoa tay rót rượu điệu nghệ của anh khiến cả bọn thích thú. Những ly rượu đầy tràn lại nhanh chóng được anh đẩy về phía bọn họ, và cả về phía cô. Hình như anh cố tình hùa với bọn người đó bắt cô phải uống nhiều hơn. Có chút gì đó như là hụt hẫng trong cô. Cô lại nắm chặt ly, uống, uống, uống…

5.

Cô đến quán một mình, lần này không có cái bóng của thằng Sơn đầu gấu. Quán chiều thưa khách. Cô đột ngột bước vào khi cánh cửa xịch mở, mang theo cả một mảng nắng chiều và gió lộng.

–    Chào cô – Anh mỉm cười lịch sự.

–    Chào anh…

–    Xinh lẫu, cô ún gì? – Anh lại dùng cái giọng đặc sệt chất quê của mình.

Cô gái nghiêng đầu cười thật tươi:

–    Hôm nay tôi không uống gì, chỉ muốn ngồi đây chơi thôi.

–    Thưa cô, hôm nay anh Sơn không có ở đây.

–    Tôi không đến đây để tìm Sơn. Tôi tìm anh á!

–    Tìm tôi? – Anh nheo nheo mắt, tinh quái nhìn cô.

–    Đúng rồi. Để cám ơn anh. Cám ơn anh đã rót rượu cho tôi…

Tối hôm đó, anh đã rót cho cô uống rất nhiều. Càng uống cô càng tỉnh. Tới khi tỉnh đủ cô mới phát hiện thứ được rót vào ly của mình chỉ là nước lã. Tối hôm đó, khi rót rượu cho cô, anh cũng nheo nheo mắt nhìn cô tinh quái như thế này đây.

–    Cô à, đã không biết uống rượu thì thôi, sao lại tập uống làm gì…

–    Thì không biết nên tôi mới tập uống!

–    Nhưng…rượu ngon phải uống với bạn hiền. Dù sao thì cô cũng không nên uống với Sơn và mấy người bạn của anh ta…

–    Sơn và mấy người bạn của anh ta thì sao chứ? – Ánh mắt cô nhìn anh lấp lánh.

–    Tôi thấy… hình như kiểu sống của họ đâu có hợp với cô…

–    Nè, nè, như vậy có kể như là anh đang nói xấu chủ của mình không ta? Giới thiệu với anh, tôi là em gái của anh Sơn đó nghe!

–    Em gái? Sơn là con một, làm gì có em gái… – Anh giật mình.

–    Có, ít là một đứa em gái cùng cha khác mẹ. Mới được nhận về thôi anh!

Giọng nói của cô tự nhiên trầm xuống xa vắng. Trong cái quán vắng tanh, anh nghe rất rõ tiếng thở dài của cô. Tiếng thở dài không chỉ vọng lên từ vô thức.

–    Người ta nhận tôi về, cũng giống như bứng một cây hoa dại về để trang trí cho biệt thự nhà họ thôi anh.

–    Chúc mừng cô. Như vậy dù sao thì cô cũng được về với cha của mình…

–    Cha? Ông ấy đã bỏ rơi mẹ con tôi gần hai mươi năm nay. Giờ, chỉ vì cái vận cái hạn nào đó, theo lời của một bà bói nào đó, ông ấy chợt nhớ ra mình còn có một đứa con rơi rớt trên một cái phố núi xa hun hút. Vậy là tôi bị bứng đi… 

–    Cô cũng đã lớn rồi còn gì! Nếu cô không muốn, ông ấy đâu có quyền bứng cô đi, phải không?

–    Tôi muốn. Từ nhỏ tôi vẫn quen nghĩ rằng mình chỉ là một con bé lọ lem hẩm hiu sinh ra ở một xó xỉnh vô danh. Tự nhiên một ngày có một ông nhà giàu ở phố đến nhận là bố tôi. Tôi muốn biết phố thị là gì. Tôi muốn biết sức hút của phù hoa ra sao. Ông ấy giàu đến như vậy mà…

Gương mặt anh thoáng ngỡ ngàng. Thì cũng phải. Phù hoa mãi vẫn là phù hoa, và có bao giờ phù hoa đánh mất sức hút của nó đâu. Có bao giờ cô lọ lem nghèo khổ thôi mơ về một ngày hóa thân thành công chúa cao sang.

–    Nè! Cái mặt ngơ ngơ của anh nói với tôi rằng anh đang hiểu lầm về tôi đó nghe. Tôi để mẹ mình ở lại phố núi, đến nơi này chỉ là để tìm cha tôi. Tôi muốn hiểu cha tôi. Tôi muốn biết tại sao ông lại đành tâm bỏ mẹ tôi. Tôi muốn biết phải mất bao nhiêu nước mắt của những người phụ nữ như chúng tôi thì mới có thể thấm ướt và làm mềm trái tim của một người đàn ông…

–    Vậy sao cô lại nhập vào đám bạn của Sơn?

–    Tôi nghĩ hắn giống cha tôi thời còn trẻ. Chỉ có hắn mới giúp tôi tìm thấy câu trả lời. Anh có hiểu không?

–    Vậy là cô quyết định bám vào hắn?

–    Đúng rồi. Giống như cái kiểu của hoa Tầm Xuân ở quê mình đó anh. Nó luôn biết cách tìm một chỗ bám để có thể trèo lên cao. Mà nè, anh đừng quên Tầm Xuân cũng là loại có gai đó nghen!

6.

Chiều. Con đường dọc bờ sông lộng gió. Có hai người ngồi tựa vai nhau.

Hình như cánh hoa dại lạc trôi giữa phố đã tìm được cho mình một điểm tựa tin cậy và an yên.

Người ta vẫn bảo rằng Tầm Xuân nói cho cùng chỉ là một loài hoa hồng dại, kiêu sa cho lắm thì cũng chỉ có thể khoe ra giữa núi rừng, với cỏ dại hoa ngàn. Hình như không đúng. Chỉ cần tìm được một điểm tựa thực sự, đâu có nơi nào mà Tầm Xuân không thể nở hoa và khoe sắc.

Cao Gia An, S.J., (Tập San Mục Đồng 9. Tết Đoàn Viên)

Miền cỏ xanh dưới lòng sông

 

Tự nhiên con sông ấy biến thành con sông ốm đói. Cái bề mặt bình yên và phẳng lặng tự bao đời của nước đột ngột biến mất, thế vào là cái mấp mô trơ trọi của lòng sông. Như con bò gầy trơ xương, nước cạn, con sông khoe ra cả những góc cạnh cáu bẩn bầy hầy. Dọc hai mé sông, rác rến và ni lông phế thải đọng lại phất phơ với gió. Những cây cọc tre trồi trơ trẽn chẳng biết giấu mình vào đâu. Những con cá ngoi ngóp trong vũng bùn đã cạn kiệt và đặc quánh.

Trên con sông ốm đói có nhiều con người ốm đói. Những chiếc xuồng mắc cạn nằm chỏng chơ phơi manh lưới trống trơn vắt vẻo. Vài ba túp lều rải rác mọc lên dưới lòng sông, vẹo xiêu và tạm bợ cứ như bị cắm lộn chỗ. Từ bên trong những túp lều ấy, vọng ra ánh nhìn ngơ ngác của những người đi lạc ngay tại nơi vốn là chốn mình sinh ra. Nắng chiều đổ đầy lòng sông một thứ vàng nhợt nhạt. Cũng con nắng ấy, cũng ráng chiều ấy, nhưng thiếu cái sóng sánh mềm mại của con nước, nắng trời như đổ vào khoảng lụi tàn không không.

Mọi chuyện bắt đầu khi một dự án thủy điện được xây trên dòng sông, cách xóm chài nghèo gần một trăm cây số. Nước chảy từ thượng nguồn bị chặn lại. Nước tuôn xuống từ trời bỗng dưng bị biến thành một thứ ân huệ xin cho, bị quản lý theo cơ chế nhỏ giọt. Cư dân xóm chài vừa ngóng cổ cầu mưa, vừa thấp thỏm chờ người ta xả đập đưa nước về sông. Nhưng ai biết đâu là vị trí thực sự của những con người thấp cổ bé miệng ở một xóm chài vô danh trên bàn cân của những kế hoạch vĩ mô. Ai biết thêm những thứ gì nữa sẽ được người ta xả ra kèm theo con nước. Muốn hay không muốn, người ta vẫn cứ phải liên đới với nhau cách chặt chẽ hơn rất nhiều so với những gì người ta tưởng nghĩ. Dân làng chài ngơ ngác tự hỏi ai là những con người ta, ở một nơi xa lắc xa lơ nào đó, lại nắm trong tay cái quyền sinh sát cả cuộc đời của họ?

Cư dân xóm chài của dòng sông ốm đói tan tác mỗi người một phương. Bỏ thuyền lên đất liền, là chấm dứt một cuộc đời lưu lãng sông hồ, hay lại tiếp tục kiếp giang hồ phiêu bạt theo cách khác, ở những nơi khác?

˜™—– + —–

Thằng bé long ngóng đặt chân xuống đất. Cái nền đất thì cứng và cố định, nhưng dáng đi của nó thì ngả nghiêng lạ lẫm. Từ lúc sinh ra, chưa bao giờ thế giới dưới chân nó thôi chênh chao. Dưới lòng thuyền, mỗi khi nó đặt chân chỗ nào, chỗ ấy lún xuống dưới sức nặng của nó. Trên mặt đất cứng, chừng như người ta không có sức nặng.

Nó được sinh ra trên thuyền vào một đêm mưa bão. Không bà mụ, không đèn đuốc, chỉ có tiếng khóc của trẻ thơ chào đời và tiếng khóc của người cha tiễn vợ mình ra đi vì ca sinh khó. Xác mẹ nó được chôn trộm đâu đó trên một rẻo đất dọc bờ sông. Với những người sống kiếp lưu lãng sông hồ, đất là một miền mơ xa hoa và lạ lẫm. Sống là ra đi. Mẹ nó đã bỏ đất lên thuyền để sống, để đi theo tiếng gọi con tim, đi theo cha nó. Hành trình của mẹ nó đã dừng lại trên một rẻo đất vô danh dọc bờ sông. Cha con nó lại tiếp tục chảy xuôi theo dòng đời. Có thể gọi là thỏa chí vẫy vùng trên sông nước, mà cũng có thể gọi là lênh đênh với kiếp du thủ du thực.

Chợt một ngày con nước đột ngột biến mất. Những cuộc đời bỗng dưng bị mắc cạn, châng hẫng và ngoi ngóp.

Thuyền không đi nữa, nhưng thằng bé thì chẳng chịu đứng yên một chỗ. Mỗi ngày vài lần, nó lò dò ra khỏi thuyền. Lúc đầu nó chỉ dám đi luẩn quẩn quanh thuyền. Dần dần nó đi xa hơn, một mình leo ngược dốc lên bờ sông, để từ trên bờ nhìn xuống cái xóm chài tạm bợ lọt thỏm giữa lòng một thung lũng hỗn độn. Sau lưng nó là cả thành phố ồn ào. Chiều xuống. Đèn lên. Nó lạ lẫm nhìn về phía ánh đèn đêm của thành phố. Sống trên thuyền, nó đã quen thấy mọi thứ chung quanh đều chuyển động và cứ tuồn tuột trôi qua. Trên đất, cả cuộc sống như cùng dừng lại và phơi bày trước mắt nó. Không còn trôi và mất. Chừng như chỉ cần vươn tay là có thể chạm được, có thể với tới, có thể nâng niu và nắm giữ.

Mặt đất rộng hơn rất nhiều so với căn lều bé xíu của nó. Thằng bé phát hiện ra điều đó vào ngày nó gặp một đám trẻ khác.

– Ê!

Thằng bé giật mình khi nghe có tiếng gọi. Nó quay đầu nhìn dáo dác.

– Ê, bên này nè! – Một bàn tay nhỏ xíu vẫy vẫy từ phía sau một chiếc lều – Bên này, bên này…

Chạy về hướng tiếng gọi, nó gặp một mái tóc bù xù, một gương mặt đen nhẻm và một cặp mắt sáng trưng của một con nhóc trạc tuổi nó.

– Đang làm gì đó? – Con nhóc hỏi, cười khoe nguyên cái hàm răng sún.

– Đâu có làm gì đâu! – Nó cười đáp lại.

– Vậy thì lại đây phụ một tay đi! – Con nhóc dúi ngay cái thau thiếc đang cầm vào tay nó.

Vậy là thằng nhóc nhập bọn với đám trẻ chui ra từ những chiếc thuyền mắc cạn. Đám nhóc đang hì hụi khuấy bùn tát nước. Mặt mày lấm lem bùn đất, nhưng đứa nào cũng hớn ha hớn hởn.

– Bắt gọn đám cá này, tối nay đắp bùn nướng lên là hết xẩy! – Tiếng một đứa nào đó trong nhóm reo lên phấn kích.

Sau màn tát nước bắt cá, bọn trẻ không cần phải tốn nhiều thời gian để trở thành bạn của nhau. Lòng sông được đổ đầy bởi tiếng cười và đủ thứ trò chơi của bọn nhóc. Những vũng nước hiếm hoi còn sót lại bị quậy lên, ướt đầm đìa trên đầu trên cổ lũ trẻ. Những cánh diều chấp chới bay cao với nắng chiều và gió lộng. Cả bầy trẻ tíu tít đuổi theo trái bóng lăn trên nền đất. Hình như bọn nhóc có cách rất riêng để khám phá và để thấy thế giới này luôn mới. Tại nơi mà những người lớn ngoi ngóp mắc cạn, bọn trẻ vẫn có thể có một khung trời tuổi thơ đẹp như mơ.

Hình như tiếng cười của bọn trẻ làm giật mình nhiều người lớn. Những ánh nhìn thôi lạc hồn và ngơ ngác. Thì ra, dù dòng sông không còn chảy, cuộc sống vẫn cứ trôi. Bất chấp những thịnh suy thăng trầm, sự sống vẫn cứ tiếp diễn liên tục theo cách rất riêng của mình.

Chiều chiều, có người vác cuốc đi dò đất. Nhiều luống đất được xới lên, bốc theo mùi phù sa và hương đất mới thơm ngát. Những hạt mầm được gieo xuống, chất chứa cả một trời hy vọng. Thỉnh thoảng, vài cơn mưa đột ngột kéo về. Nước không đủ để lấp đầy lòng sông, nhưng đủ để làm xanh lên những luống cỏ dọc đôi bờ. Xanh con đường, xanh bờ đê. Xanh với những ngồng rau tươi. Xanh trên từng nét môi cười.

Những lầy lội dưới lòng sông dần được hong khô. Những rẻo đất hoang trơ trọi bắt đầu được cỏ xanh phủ kín. Những đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ. Những đàn cò trắng kéo nhau về tìm mồi. Và cuộc sống lại bắt đầu như thế.

Không phải chỉ đến khi giải quyết hết mọi vấn đề thì người ta mới có thể sống. Đời người thì quá ngắn, và những vấn đề của cuộc sống thì quá nhiều. Vậy nên vừa sống vừa giải quyết thôi! Cũng như không phải chỉ đến khi có được một vùng đất lý tưởng thì miền cỏ mới lên xanh. Cỏ cây mang sức mạnh tiềm tàng không thể bị bóp nghẹt của sự sống. Dù là trên thảo nguyên mênh mông hay dưới lòng sông cạn cùng hoang phế, mùa qua mùa, cỏ vẫn cứ lên xanh.

Biết rằng sẽ còn nhiều người đau đáu với những đổi thay và thịnh suy thăng trầm của một kiếp người. Biết rằng thỉnh thoảng sẽ có kẻ đứng giữa miền cỏ xanh mà bần thần, vì da diết nhớ về miền chập chùng sóng nước. Miền cỏ vẫn cứ mọc lên, xanh mướt.

Thằng nhóc, con nhóc, và đám nhóc, sẽ đi lên từ dưới lòng sông. Và trên những con đường có dấu chân người qua, miền cỏ sẽ mọc lên, xanh mướt.

Cao Gia An, S.J.

Rối…

 

 

Cuối cùng thì ông cũng xác minh được điều mình muốn xác minh: vợ ông đã chết cách đây hơn bốn mươi năm. Ông tìm thấy điều mình muốn tìm sau một thời gian rất dài. Giống như có một viên đá vừa được cất ra khỏi lồng ngực ông. Nhưng lạ quá, lòng ông không nhẹ nhõm tí nào! Có ý nghĩa gì không khi cái chết của một người là giải phóng cho một người khác? Vợ chết, chứng minh rằng phép Hôn Phối đã không còn ràng buộc ông, và ông không bị vướng mắc ngăn trở gì trong cuộc sống với người vợ sau này. Vậy là cái mặc cảm đè nặng trên ông suốt ba mươi năm trời đã được tháo cởi.

Nhưng thực lòng ông không thấy vui.

Người vợ có hôn phối với ông là người mà ông thực lòng yêu thương. Ngày cưới vợ là ngày hạnh phúc nhất trong khoảng thời gian tuổi thanh xuân của ông. Nhưng ngày hạnh phúc thường qua mau. Lấy vợ chưa được tròn một năm thì ông đi lính. Chưa kịp có một đứa cháu để nối dõi cho ông nội, để bà nội ẵm bồng. Chiến tranh không chỉ lấy đi tuổi xuân của ông, chiến tranh còn phá nát niềm hạnh phúc có một mái ấm gia đình mà ông chỉ vừa kịp nhấm nháp. Ông cầm súng lên đường, chiến đấu để bảo vệ cho một quê hương rất rộng, đi hết từ làng này sang làng khác, anh dũng chiến đấu từ chiến trường này sang chiến trường khác. Ông sống sót trở về, thấy làng quê của mình tan hoang đổ nát. Người chinh chiến thì bình an trở về, còn quê hương thanh bình bỏ lại sau lưng đột nhiên biến mất. Xóm làng đột nhiên biến mất. Những người thân yêu nhất của ông cũng biến mất. Ngày trở về, chẳng còn ai đón ông. Chẳng còn ai để ông thăm hỏi tin tức. Xóm làng đổ vỡ lặng ngắt, chẳng còn ai để có thể trả lời cho ông…

Vậy là ông bắt đầu cuộc đời lưu lạc. Không phải vì ông muốn ra đi, nhưng là ông chẳng còn chốn nào để quay về. Ông bắt đầu hành trình tìm kiếm những người thân của mình, như hành trình mò kim đáy bể.

Ông vào sống trong xóm đạo của những người di cư. Họ đạo đức lắm. Họ cũng là những người bị đẩy khỏi quê hương xứ sở như ông, chẳng còn gì để bám tựa ngoài một niềm tin mãnh liệt vào chính Thiên Chúa, Đấng bất biến bất chấp bao biến đổi thăng trầm của thế sự. Tin vào Thiên Chúa bất biến, họ cũng tin rằng sự gì Thiên Chúa đã liên kết là bất biến, loài người không được phép phân ly. Rất nhiều người đã kết luận rằng chuyện của ông không giải quyết được. Trừ phi phải chứng minh được rõ ràng rằng vợ của ông đã chết, chẳng ai có quyền tuyên bố hủy hôn để ông được tự do đi bước nữa với bất cứ một người phụ nữ nào khác nữa theo luật đạo. Ông tin rằng hôn nhân của ông và người vợ trước là do chính Thiên Chúa liên kết. Nhưng chính loài người đã phân ly chuyện mà Thiên Chúa liên kết nơi cuộc đời của ông và vợ ông. Chiến tranh là gì nếu không phải là giải pháp điên khùng cho thất bại trong tương quan giữa người với người, nước với nước, ý thức hệ này với một ý thức hệ khác. Và nạn nhân của nó không chỉ đơn thuần là những kẻ nằm dưới hòm tên mũi đạn… Ông nhận thấy rất rõ mình chỉ là nạn nhân. Nạn nhân không được an ủi không chỉ từ luật đời mà còn theo lẽ đạo.

Sau mười năm trời tìm kiếm trong vô vọng, ông đi thêm bước nữa với người phụ nữ thứ hai trong cuộc đời của ông. Vậy là ông thành kẻ bên lề, bị dạt ra khỏi những sinh hoạt bình thường của giáo xứ. Người ta gọi ông là kẻ bị rối. Ông cũng thấy mình bị rối. Nhưng rối vì cái gì thì ông không thật sự hiểu rõ. Vì không hiểu rõ nên ông cũng không tìm thấy được lối ra cho chính mình. Cũng không ai chỉ cho ông thấy được một lối ra. Bao nhiêu lần nộp hồ sơ để xin cứu xét, nhưng vô vọng, cuối cùng ông nhận ra rằng trường hợp của mình cũng chỉ là một trong vô số những trường hợp được giản lược hóa qua những bộ hồ sơ nằm yên lặng gọn gàng trong một văn phòng nào đó. Biết đâu những người phải thụ lý hồ sơ của ông cũng không tìm được lối ra… Ông mơ hồ nhận thấy chuyện của mình giống như một gút thắt mà chính những người thắt gút cũng không biết phải tháo cởi như thế nào. Vậy thì còn ai có thể tháo cởi được cho ông?

Ông vẫn đều đặn đến nhà thờ. Lúc đầu, ông còn tự cho phép mình ngồi vào bất cứ chỗ nào còn trống, giống như bao nhiêu người bình thường khác. Đến lúc rước lễ, mọi người đứng lên, rời khỏi chỗ của mình, tiến về cung thánh. Chỉ có mình ông phải ngồi lại. Những người ngồi cùng băng ghế mỗi lần đi ngang qua chỗ của ông thì phải lách mình. Lúc đó ông mới thấy sự khác người của mình. Việc ngồi lại của ông trở nên một chướng ngại cho những người có thể đứng dậy tiến lên rước lễ. Ông khao khát được đứng dậy. Ông khao khát được tiến lên, giống như những người chung quanh ông. Nhưng ai cho ông đứng dậy? Ai có thể nâng ông đứng dậy? Không ai cả. Vậy nên ông chấp nhận chọn cho mình một góc thật sâu và thật khuất ở cuối nhà thờ, để có thể lặng lẽ tham gia Thánh Lễ mà không làm cản trở một ai. Ông nhắm mắt cầu nguyện để không thêm tủi thân tủi phận khi thấy những người khác được đứng lên đi rước lễ còn mình thì phải ngồi lại…

Ngày gặp lại một người đồng hương hiếm hoi còn sống sót sau cơn binh lửa, ông nhận được tin cả gia đình ông đều đã chết từ bốn mươi năm trước, vào đêm làng ông bị dội bom.

Ông tưởng cuộc đời mình còn bị thắt gút. Ai cũng tưởng rằng cuộc đời ông còn bị thắt gút. Ai cũng cho rằng ông bị rối trong cuộc đời thứ hai của mình. Ông cũng đã sống như một người bị rối, tin rằng mình bị rối… Người đồng hương lại cho ông biết ông không rối. Cuộc sống hôn nhân ba mươi năm nay của ông lẽ ra phải được xem là không bất hợp pháp. Đảm bảo cho tất cả những điều ấy là cái chết của vợ ông.

Có điên khùng không khi đã có lúc ông đã thà tin rằng mình bị rối, thà chịu rằng cuộc sống hôn nhân của mình lúc này là bất hợp pháp theo lẽ đạo. Vì như vậy có nghĩa là người vợ trước của ông vẫn còn sống, dù là ở một nơi nào đó, với một ai đó. Ông đã chấp nhận mang tiếng rối. Chấp nhận chỗ của mình chỉ là một góc khuất trong nhà thờ mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Chấp nhận rằng mình không xứng đáng lên rước Chúa. Chấp nhận không được hiệp thông trọn vẹn với nhịp sống và nhịp phụng vụ của Giáo Hội mẹ của ông… Ông chịu tất cả, chỉ với một hy vọng mong manh rằng vợ ông còn sống.

Giờ, có người cho ông biết rằng vợ ông đã chết. Là mở toang một khung cửa, hay là đóng sập lại một khung cửa? Là tháo tung một nút thắt đã ba mươi năm cầm buộc cuộc đời ông, hay chỉ đơn giản là chỉ ra rằng cuộc đời ông vốn chẳng có một nút thắt nào? Là tin vui hay tin buồn?

Thương người vợ trước của mình nhiều, ông còn thương người vợ hiện tại của mình nhiều hơn. Là con gái, ai chẳng mong được một lần khoác lên mình bộ áo cô dâu. Ai mà chẳng mong đám cưới của mình được cử hành long trọng trong Thánh Lễ nhà thờ. Nhưng vì thương ông, bà đã hy sinh tất cả. Bà chấp nhận cùng ông chia sẻ tiếng đời dị nghị, cùng ông đi qua bao nhiêu năm cuộc đời mang theo cái gút rối không ai giải gỡ được. Từ một cô giáo lý viên năng nổ trong giáo xứ, bà chấp nhận rút lui vào một góc nhà thờ giống như ông. Vậy là họ cùng nắm tay nhau đi qua ba mươi năm cuộc đời, như một cặp vợ chồng không được hiệp thông trọn vẹn với nhịp sống đạo mà tuần nào họ cũng trung thành tuân giữ, với Giáo Hội mà họ hết lòng yêu mến, với Thiên Chúa mà họ hết dạ kính thờ.

Giờ thì tốt rồi. Nhưng điều tốt sao lại đến muộn quá, liệu còn có ý nghĩa gì không? Ai sẽ trả lại cho họ ba mươi năm, một nửa cuộc đời, để họ có thể bắt đầu lại những tháng ngày không giông bão? Để họ có thể sống lại trọn vẹn hành trình đức tin, không phải của những kẻ đi bên lề…

Ông nhớ đến niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đã nuôi sống ông bà trong suốt ngần ấy thời gian. Mỗi năm một lần, vào dịp Tuần Thánh, ông chở bà đi Xưng Tội để sốt sắng dọn mình rước Chúa trong ngày Lễ Phục Sinh. Sau lễ Phục Sinh, họ lại trở về hành trình sống của hai kẻ đi bên lề, chờ Lễ Phục Sinh năm tới. Mỗi lần thấy ông buồn, bà chỉ an ủi bằng một câu đơn giản: thôi anh, s ca ti mình vy ri!

Đã nhiều lần ông tự hỏi mình “số” có nghĩa là gì? Là ý định của Thiên Chúa, hay chỉ là những nhào nặn của bàn tay con người? Phải chăng đã là con người, dù có là những người hết mực tin tưởng vào Thiên Chúa, thì không một ai có thể thoát khỏi những long đong của số kiếp làm người?

Giờ thì tốt rồi. Ông có thể an ủi bà rằng: s ca ti mình không phi như vy! Giờ thì ông sẽ báo với bà rằng họ có thể là vợ chồng đường đường chính chính, danh chánh và ngôn thuận.

Giờ thì ông mới biết mình không bị rối.

Cao Gia An, S.J.

(Tập San Mục Đồng 6, Muối Mặn Gừng Cay)

Hương Ổi Ngày Xưa…

 

 

Cây ổi nằm giữa vườn nhà ngoại, hơi tụt về phía sau, gần bên vách ngọn đồi. Ngoại nói nhờ những mạch nước ngầm trong lòng đồi mà cây ổi lúc nào cũng xanh lá, trái lúc nào cũng rủng ra rủng rỉnh nhiều gấp mấy chục lần bọn cháu nhà ngoại. Ngoại trồng cây ổi lúc cậu Hai lấy vợ. Cây ổi lớn lên cùng với đứa con đầu lòng của cậu Hai. Tới khi gả chồng cho cô Út, cây ổi đã xum xuê lá cành và tỏa bóng che rợp một góc vườn.

Ai cũng khen ngoại biết chọn đất chọn hướng. Mảnh đất nhà ngoại chỉ là một rẻo, nhưng kéo dài theo thế sơn hoàng thủy bão, sau lưng là núi trước mặt là sông, ai nhìn vào cũng mê. Mỗi sáng, mặt trời mọc lên bên kia bờ sông, con nước như một tấm gương vàng phản chiếu toàn bộ ánh sáng đầu ngày hắt lên khu đất nhà ngoại. Mỗi chiều, mặt trời khuất sau ngọn đồi, cứ như có ai đó đem toàn bộ của cải giấu sau lưng nhà ngoại.

Cậu Ba lấy vợ ra riêng, cất nhà trên cùng mảnh đất. Ngoại ở với cậu Hai trên căn nhà phía Bắc, vợ chồng cậu Ba ở căn nhà phía Nam. Ở giữa là khoảng vườn rau lúc nào cũng xanh tươi mướt rượt.

Hồi cô Út còn chưa lấy chồng, cuộc sống của cả đại gia đình đơn giản và bình yên lắm. Có rau trong vườn, có cá ngoài sông, chỉ cần mang bán phiên chợ sớm thì muốn mua về thứ gì cũng có. Ngoại nói, quan trọng nhất là cả gia đình hạnh phúc vui vầy bên nhau. Đạm bạc thôi, mà đầy tình đầy nghĩa. Những buổi cơm chiều dọn ra giữa sân, cả nhà bày chiếu ngồi quây quần quanh mâm cơm, đầy ắp tiếng cười tiếng nói.

Những đứa cháu dần lớn lên, vườn của ngoại như một khu vườn cổ tích nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cây ổi ngoại trồng bước vào giai đoạn sung mãn nhất. Thân cành tròn trịa chắc nịch, trái căn mọng xum xuê. Thỉnh thoảng vài lớp vỏ bong ra, rơi xuống đất, nhưng dường như chỉ để khoe cái sức sống đang rạo rực ẩn chứa bên dưới lớp vỏ xanh xanh xám xám đầy nhựa sống. Những đứa trẻ lớn lên và vui chơi mỗi ngày nhờ cây ổi ngọt lịm trái. Còn Cô Út thì càng ngày càng đẹp ra nhờ mớ lá ổi. Cứ chiều chiều, ngoại lại mang chiếc rổ nhỏ đi ngắt lá. Từng chiếc lá ổi được ngoại chọn lọc và lau rửa cận thận, rồi cho vào nồi nước đun sôi, để cho Cô Út gội đầu. Mùi hương lá ổi thơm nồng nàn từ nhà dưới lên nhà trên. Nhờ mớ lá ổi tươi rói trên cây, bộ tóc dài của Cô Út cứ càng ngày càng dày mịn và bóng mượt.

_____+_____

Từ ngày Cô Út lấy chồng bên kia sông, mỗi chiều ngoại thôi không hái lá ổi nữa. Lá cây ổi cứ ngày một nhiều lên, xanh, rồi già, rồi khô, rồi rụng đầy một góc sân. Tiếng lá vỡ nghe giòn rụm mỗi độ có bước chân người đi qua.

Mỗi lần về thăm nhà, Cô út hay kể cho mọi người nghe nhiều câu chuyện lạ lắm, về những ánh đèn đêm của phố thị nơi cô đang sống. Cô nói ở nơi đó đêm cũng sáng như ngày, không có cảnh tù mù tờ mờ và buồn thỉu buồn thiu như ở rẻo đất nhà mình. Cô nói ở đó đêm chỉ là cái phông nền, trên đó người ta tô lên những gam màu vui nhộn và sống động khác nhau bằng đủ thứ loại ánh sáng đa màu đa sắc. Cô nói ở đó cuộc sống khác lắm…

Ánh sáng trong lời kể của cô Út thắp sáng trưng cặp mắt của cậu Hai và cậu Ba. Tối tối, hai cậu bắt đầu có thói quen ngóng về thành phố phía xa xa bên kia sông. Ánh đèn đêm cứ chập chờn nhảy múa, vẽ nên bao giấc mơ huyền hoặc quyến rũ.

Một thời gian sau, cậu Hai và Cậu Ba thôi nghiệp làm vườn, dắt nhau qua bên kia sông đi tìm ánh sáng văn minh trong lời kể của cô Út. Ngoại ở lại giữ nhà giữ cháu, giữ vườn rau và cây ổi.

Có vẻ như phố thị bên kia sông mang đến cho gia đình hai cậu nhiều điều mới mẻ. Chẳng bao lâu cả hai nhà đều sáng trưng và vui nhộn vào mỗi tối với ánh đèn Neon và những chiếc Tivi, với dàn loa và mấy đĩa phim đĩa nhạc.

Nhưng cũng từ đó, nhà ngoại bớt hẳn tiếng cười. Không còn những bữa cơm chiều dọn ra giữa sân. Không còn bóng người cùng nhau gánh nước tưới rau vào những sớm mờ sương. Chiều, mặt trời chưa kịp lặn thì đèn đuốc đã sáng trưng và phim nhạc đã huyên náo tưng bừng. Sáng, khi mặt trời lên cao rọi thẳng, những gương mặt xộc xệch ngái ngủ mới bắt đầu thò ra khỏi cửa…

Vườn sau đã không còn những ngồng rau xanh mướt. Chiều chiều, mỗi khi gió về, cả vườn chỉ còn dáng ngoại liêu xiêu với cây ổi đã vào mùa xác xơ trụi lá.

_____+_____

Cậu Hai và cậu Ba vắng nhà thường xuyên hơn. Đi đã vội, về lại càng vội hơn. Ánh sáng từ bên kia sông chừng như đã thắp lên trong lòng hai cậu cơn thèm khát chẳng thể nào dập tắt. Hai cậu lúc nào cũng chộn rộn háo hức, như đã tìm thấy được thiên đường của mình. Nhưng càng ngày hai cậu càng mang dáng vẻ của những kẻ đang bị cái thiên đường mơ ước ấy hút đến giọt máu cuối cùng. Dáng vất vả bận rộn. Người mệt mỏi cáu bẳn. Chỉ có ánh mắt của hai cậu là mỗi lúc một sáng lên, toan tính và tham vọng.

Ngày nọ, cậu Hai về, dắt theo một một thương gia đến thăm nhà. Ông thương gia đánh tiếng muốn mua một phần đất nhà ngoại. Lúc thì ông khen rẻo đất nhà cậu Hai dáng đẹp thế đẹp. Lúc ông lại bảo mảnh đất của cậu Ba bằng phẳng tốt tươi. Hai cậu bắt đầu nhìn nhau bằng ánh mắt của hai đối thủ…

Ngày ngoại còn sống, không nhà nào thành công trong việc mua bán đổi chác mảnh đất của tổ tiên. Nhưng một đường ranh được kẻ thẳng băng ngay giữa miếng đất, hàng rào được xây lên kéo dài từ lưng ngọn đồi ra thẳng đến bờ sông. Ngoại phải ở lại bên nhà cậu Hai, để giữ bàn thờ của ông. Ngày nào ngoại cũng ra vườn sau ngóng về hướng những đứa cháu ở bên kia hàng rào….

Di chúc để lại, ngoại xin được chôn ở ngay chính giữa mảnh đất, đầu quay về núi mặt hướng ra sông. Ngoại nói khi sống ngoại không thể chia làm đôi để cho mỗi người một nữa, khi chết cứ chôn ngoại như vậy để ngoại có thể vòng tay ôm một lúc hai đứa con, một đứa bên tay phải một đứa bên tay trái. Mặt ngoại có thể nhìn về bên kia sông, hướng cô Út đi lấy chồng.

_____+_____

Những căn nhà mới mọc lên cao ngất ngưỡng, dạt về hai đầu mảnh đất, hình như cứ âm thầm mà kèn cạnh nhau chẳng bên nào chịu kém bên nào. Con cái cả hai nhà đều được gởi qua bên kia sông để học hành và sinh sống. Những đứa nhỏ ngày trước còn chơi chung với nhau dưới một gốc ổi, giờ nhìn nhau dửng dưng và nhạt thếch xa lạ.

Mộ của ngoại được dời lên trên ngọn đồi. Phần đất ở chính giữa hai ngôi nhà đã được bán cho ông thương gia năm nào. Một khu nhà máy liên hợp vừa to vừa cao mọc lên ở nơi là vườn rau ngày xưa. Cây ổi đã cỗi cằn nằm phía sau nhà máy, lẫn giữa khu dành cho rác rưới và nguyên liệu phế thải. Cỏ mọc um tùm phủ kín lối đi.

Ngoại ơi,

Con về, tìm lại khu vườn của tuổi thơ, nhưng chỉ gặp hoang tàn và xa lạ.

Con về, tìm lại những anh chị em của con thời thơ ấu, nhưng chỉ gặp những cái nhìn nhạc thếch dửng dưng.

Con đã đi xa rất xa, với giấc mơ đổi đời. Chỉ đến khi mỏi gót quay về, con mới nhận ra rằng giấc mơ ấy nằm ngay tại nơi mình đã rũ bỏ để dứt áo ra đi. Hương ổi ngày xưa chừng như hãy còn lẩn khuất đâu đây…

Nhưng còn có con đường nào cho kẻ trở về? Còn cơ hội nào cho con cháu sống lại những ngày xưa ngọt ngào đầm ấm?

Còn vùng trời nào cho những kẻ tự đánh mất vùng trời của chính mình không?

Cao Gia An, S.J.

Trên Những Đường Cong


Đám cưới của chị Diệp không có tiếng pháo. Cây phượng vĩ đầu làng rực rỡ cách vô tình. Xác hoa phượng rải đầy trên lối vào xóm nhỏ. Chị Diệp lấy chồng đột ngột. Đám cưới của chị cũng không được tổ chức trong nhà thờ, không dựng rạp đãi khách, không làm bận rộn cả xóm làng. Mọi sự hoàn tất chỉ trong vỏn vẹn một buổi chiều.

Đó là một buổi chiều mùa hạ buồn tênh.

Cho dù anh Tư nói thế nào đi nữa, thằng Củn cũng không thể không ghét chị Diệp được. Sao bỗng dưng chị ấy lại đi lấy chồng, mà chồng chị lại không phải là anh Tư chứ? Chẳng phải anh đã từng thương chị quá đỗi quá chừng đó sao? Chẳng phải chị đã đã từng nhiều lần thủ thỉ: không có anh Tư không biết đời em s ra sao, đó sao? Hay đó chỉ là chuyện hợp tan xoay vần của những người lớn giữa dòng đời lưu lạc?

Vợ chồng là duyên phận. Người ta vẫn thường bảo thế. Anh Tư đã từng nói rằng anh vừa tin vừa không tin vào duyên phận. Anh không tin người ta thành vợ thành chồng chỉ như là cách để trả nợ nhân duyên của một tiền kiếp nào đó. Nhưng anh tin duyên phận là chuyện của những người yêu nhau, khi họ tìm mọi cách đạp bằng sóng gió để đến được với nhau.

Anh Tư ở sau nhà thằng Củn, mà nhà nó thì đối diện với nhà chị Diệp. Vậy nên trong chuyện tình của anh chị, thằng Củn đóng vai trò là cái gạch nối. Đó là nó hay nghĩ vậy. Còn thực tế thì anh Tư và chị Diệp thương nhau từ hồi nó còn chưa sinh ra. Bố chị Diệp mất sớm, hai mẹ con chị nương tựa vào nhau mà sống. Mẹ chị Diệp là bạn thân với mẹ anh Tư. Chẳng cần hứa hẹn cũng cẳng cần cam kết, hai người mẹ cứ âm thầm vun quén cho duyên tình của đôi trẻ. Nhà anh Tư có một vườn Cau, cây vươn thẳng tắp lên trời. Cuối nhà chị Diệp lại có một vườn Trầu lúc nào cũng xanh um mướt rượt…

Kỷ niệm đẹp nhất của thằng Củn với anh Tư và chị Diệp là những đêm trăng gánh nước ở giếng làng. Giếng nằm ở đầu làng, dẫn vào xóm nhà của anh Tư và chị Diệp bằng một con đường con cong. Nhịp sống của làng quê thường vắng lặng về ban ngày, vì cả ngày ai cũng bận rộn làm việc quần quật ngoài đồng. Chỉ khi tối đến, những người làm đồng trở về, nhà nhà lên đèn, cả xóm làng mới bắt đầu trở nên rộn ràng nhộn nhịp. Nhất là ở cái giếng làng. Nhất là vào những đêm trăng sáng vằng vặc…

Anh Tư lo cho chị Diệp nhiều cái tức cười lắm. Anh không cho chị gánh nước đầy thùng, anh nói sợ chị đau lưng. Chị Diệp khỏe thí mồ mà đau cái gì. Chị vác lúa chạy ào ào, thanh niên xóm này có mấy ai dám bì với chị… Mỗi lần thấy anh Tư lo lắng vậy, chị Diệp hay cười lắm. Nước múc lên từ giếng làng bao giờ cũng trong veo và ngọt lịm, nhưng cái trong và ngọt của nước chẳng thể nào sánh được với tiếng cười của chị. Tiếng cười của một người con gái ở tuổi mới lớn, có một người để yêu và có một người hết mực yêu thương mình.

Nhưng có gì chóng tan cho bằng tiếng cười của tuổi thanh xuân? Có gì mỏng manh cho bằng chuyện tình yêu ngây thơ của tuổi trẻ giữa dòng đời nhiều trắc trở?

Mẹ chị Diệp lại nằm viện. Lần này người ta phải chuyển mẹ chị lên thành phố để mổ.

Ngày mẹ phục hồi sức khỏe cũng là ngày cưới của chị Diệp. Chị lấy con trai của một người bạn hồi xưa của mẹ, là người đã trang trải và lo hoàn toàn cho mẹ chị trong thời gian bà nằm viện.

Cuộc sống mà, luôn có những mối liên hệ vòng vo chừng như chẳng chịu theo một quy luật nào. Tình yêu, hứa hẹn, cam kết, và tất cả những điều người ta rút lòng rút ruột cho nhau, có khi chẳng bằng một cái liên hệ vòng vo chẳng ai lường được.

Tối hôm trước ngày chị Diệp lên xe hoa, anh Tư đi đâu mất biệt, bỏ thằng Củn một mình thơ thẩn ra giếng làng. Tối hôm đó, thằng Củn gặp chị Diệp đang gục đầu bên thành giếng. Nó nửa muốn nói chuyện với chị, nửa lại không. Ngẩng đầu lên thấy thằng Củn, chị Diệp ôm chầm lấy nó mà khóc. Nó đứng ngay đơ. Bao nhiêu lời cay đắng chuẩn bị để dành cho chị như biến đâu mất tiêu… Cuối cùng, thu hết can đảm, nó chỉ có thể vừa nói vừa mếu: “Ch Dip ơi, sao t nhiên ch li đi ly chng ch?” Rồi nó khóc hu hu như thể mình vừa đánh mất điều gì đó quý giá lắm. Thấy nó khóc, chị Diệp càng ôm nó chặt hơn. Chị thổn thức: “Em có thương ch không?” Tự nhiên nó vùng ra, thoát khỏi vòng tay của chị, rồi hét to lên: “Không, em ghét ch lm! Em ch thương anh Tư thôi”

Anh Tư đáng thương lắm. Thằng Củn nhớ, có một lần có người bà con ở thành phố xuống tặng cho chị Diệp một cây trâm cài tóc bằng ngà. Cặp mắt của chị Diệp sáng trưng. Hồi đó, anh Tư buồn lắm khi nhìn thấy cặp mắt sáng trưng của chị Diệp. Anh nói mình có bỏ ra cả đời chắc cũng không thể nào mua được cái niềm vui lấp lánh trong mắt của chị. Tự nhiên anh thấy mình nghèo quá, thấy chị trở nên xa xôi quá…

—+—

Từ khi chị Diệp về nhà chồng, anh Tư cũng ra đi biền biệt chẳng một chút tin tức. Nhưng cái đám cưới chóng vánh của chị Diệp không cứu được mẹ chị. Sau một thời gian phục hồi ngắn ngủi, bà lại phải đột ngột vào bệnh viện. Và lần này bà không về nữa. Chỉ có chiếc xe cứu thương của bệnh viện chở xác bà về. Chỉ có những người tẩm liệm vội vàng cho bà vào chiếc quan tài đặt ngay trước cửa nhà.

Chị Diệp về, khóc ngất lên ngất xuống bao nhiêu lần trước khi chạm được vào chiếc quan tài của mẹ. Người đi đưa đám tang mẹ chị Diệp lặng lẽ và thưa thớt.

Đó là một chiều Thu gió chướng.

Những chiếc lá phượng bé xíu mỏng tanh, vừa kịp chuyển vàng đã tung bay xác xơ trước gió.

Cuối mùa Thu năm đó, gia đình thằng Củn cũng chuyển đi làm ăn và sinh sống ở xa. Thằng Củn ra đi, mang theo hồi ức về một câu chuyện buồn. Quê hương bỏ lại sau lưng. Nhưng dấu ấn của nỗi buồn dường như chẳng chịu bỏ rơi nó, mặc dù nó chỉ là một đứa nhỏ ngoài cuộc. Thỉnh thoảng nó lại tự hỏi, không biết những người trong cuộc bây giờ ra sao? Anh Tư đang ở đâu? Liệu anh có tìm được tương lai tươi sáng cho mình chưa? Liệu anh có tìm được cho mình một hạnh phúc riêng nào đó không? Đôi lúc nó lại tự nghĩ, chắc mỗi người cũng đều đã có một cuộc đời cho riêng mình rồi. Lớn lên, đi vào giữa lòng đời, nó mới nhận thấy rằng có gì là ghê gớm lắm đâu một câu chuyện tình của tuổi xuân tan vỡ, như câu chuyện của chị Diệp với anh Tư. Cuộc đời nhiều éo le, có biết bao nhiêu người thương nhau mà không được cùng nhau ăn đời ở kiếp. Có bão bùng sóng gió thế nào rồi mọi chuyện cũng qua thôi. Có thế nào thì người ta vẫn có cách để sống tiếp cuộc đời của mình đó thôi…

Và cuộc sống vẫn cứ từng ngày trôi với cái nhịp bình ổn cố định của nó.

—+—

–    Chú ơi, chú làm gì ở đây vậy? – Tiếng gọi đột ngột của một chú nhóc kéo Tuấn trở về với thực tại. Chú nhóc này nhìn quen thiệt là quen…

–    Chú hả, chú đâu có làm gì đâu con.

–    Vậy á? Sao con thấy giống như chú đang muốn tìm cái gì á…

–    Sao con biết chú muốn tìm cái gì á?

–    Thì tại con thấy chú đứng đây lâu lắc, mặt chú thì cứ ngơ ngơ nãy giờ nè…

–    Ờ…vậy hả… Mà con là người ở xóm này phải không, nhà con ở đâu?

–    Dạ ở cuối con đường này nè, ngay chỗ có hàng cau cao ơi là cao xanh ơi là xanh luôn kìa chú. Chú có muốn đến thăm nhà của con không?

Vậy là Tuấn theo chân chú nhóc, như một người lạ, trên con đường cong cong từ đầu làng về cuối xóm nhỏ.

Con đường đầu mùa xuân đầy nắng và gió.

Ở cuối con đường, bên hàng cau xanh ngát, Tuấn gặp lại bóng dáng quen thuộc của năm nào:

–    Chị Diệp…

Người phụ nữ giật, mình ngoảnh đầu nhìn lại:

–    Xin lỗi, cậu là…

–    Em là Củn nè, thằng Củn ngày xưa hay theo chân anh chị đi gánh nước ở giếng làng nè!

Sau một thoáng ngỡ ngàng, chị Diệp chạy đến nắm chặt tay Tuấn:

–    Ôi, là Củn đây sao? Em về hồi nào vậy? Vào nhà, vào nhà chị đi em…

Nhà của chị Diệp vẫn là căn nhà xưa, nhưng đã được sửa sang khang trang và tiện nghi hơn rất nhiều. Vừa bước vào nhà, đập vào mắt Tuấn là tấm hình cưới đặt trang trọng ngay dưới bàn thờ. Trong hình, chị Diệp cười rạng rỡ như một nàng công chúa trong tấm áo cô dâu xúng xính, đầu đội một chiếc voan trắng muốt. Chú rể đứng bên cạnh chị có cặp mắt giống hệt cặp mắt của chú nhóc đã mời Tuấn về nhà. Là anh Tư.

Quay sang xoa đầu chú nhóc, chị Diệp bảo:

–    Ra vườn gọi ba vào đây đi con. Nói ba là có khách quý đến thăm!

–    Chị à…

Chừng như hiểu được thắc mắc của Tuấn, đưa mắt nhìn vào tấm hình cưới, chị Diệp cười thật tươi:

–    Là giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của chị đó, chú à. Đâu có ngờ có ngày anh chị được cầm tay nhau bước lên bàn thờ. Còn được làm lễ cưới trong nhà thờ nữa…

—+—

Sau khi mẹ mất, chị Diệp tiếp tục cuộc đời làm dâu xa xứ. Như một chiếc thuyền đã lạc trôi trên bến bờ lạ. Người chị phải gọi là chồng là một kẻ nghiện ngập, hung hăng và thù hằn với cả thế giới. Khinh chị nghèo lại cô thân cô thế, hắn xem chị không khác gì một con ở được rước về để giúp việc trong nhà. Ngày nào chị cũng phải đưa lưng ra chịu đòn roi bạo hành. Mặt mũi tay chân chị lúc nào cũng sưng phồng bầm tím… Chị nghĩ, chắc kiếp trước mình còn nợ nần hắn điều gì đó mà chưa kịp trả, nên đành ngậm ngùi cúi mặt sống cho trọn kiếp này để trả cho xong nợ vậy.

Khi chị đã hoàn toàn buông tay, mặc cho số phận muốn ra sao thì ra, thì anh Tư đột ngột xuất hiện. Anh nói: Chu ơn người ta thì mình phi tr ơn. Nhưng có nhiu cách để tr. Không ai có quyn bt mình phi t b hnh phúc c đời ch vì ch ơn ch nghĩa… Anh nắm tay, kéo chị ra khỏi địa ngục trần gian, đưa chị trở về  xóm cũ, sống lại trong căn nhà cũ, cùng chị đối mặt với đủ thứ khó khăn ập đến.

Anh còn lên trình với Cha xứ về trường hợp của anh chị. Anh xin Cha giúp đỡ và hướng dẫn để anh chị được học giáo lý hôn nhân và được thành vợ thành chồng theo phép đạo.

Chị Diệp kể, trong Thánh Lễ cưới của anh chị, chị nhớ nhất là câu Cha giảng: Thiên Chúa luôn có th v thng trên nhng đường cong.

Ở khởi đầu, con đường của anh và con đường của chị giống như hai con đường cong về hai hướng khác nhau, đẩy anh với chị mỗi người về một ngã. Đã có lúc họ tưởng đã mất nhau vĩnh viễn. Ai biết đâu có những con đường, khi bị tách khỏi nhau, cứ cong mình theo một hướng nào đó thật kỳ diệu để tìm về bên nhau. Anh và chị đã phải bước đi trên những chặng đường cong gập ghềnh. Nhưng anh chị được Chúa chúc phúc. Con đường có đa đoan gập ghềnh thế nào đi nữa, cuối cùng Chúa vẫn có cách để đưa anh chị đến một kết thúc có hậu…

Trên bầu trời một bóng mây vừa bay qua, để lại một khoảng trời xuân trong veo và xanh thăm thẳm. Trời xuân đổ xuống khoảng sân trước nhà chị Diệp con nắng vàng ươm như rót mật. Trước sân, hàng cau vươn thẳng mình, chìa những táng lá xanh um như những cánh tay dang rộng mở ra với trời. Trên thân cau là dây trầu quấn quýt. Sau bao mưa gió, lá trầu xanh càng thêm thắm xanh. Sau bao biến đổi thăng trầm, trầu và cau đã được quấn quýt bên nhau…

Tự nhiên Tuấn nhớ lại lời của anh Tư ngày trước: Anh không tin người ta thành v thành chng ch như là cách để tr n nhân duyên ca mt tin kiếp nào đó. Anh tin duyên phn là chuyn ca nhng người yêu nhau, khi h tìm mi cách đạp bng sóng gió để đến được vi nhau.

Cao Gia An, S.J.  –  Roma cuối năm 2017

Cha Xứ Dở

Bà Quản Vân khóc nấc khi anh vừa dứt câu chuyện. Ông Vân buông tiếng thở dài thườn thượt, đầu cúi gằm như cố tránh ánh nhìn của anh. Anh cố gắng hết mức để có thể dành cho họ ánh mắt yêu thương và cảm thông. Trước những giọt nước mắt và tiếng thở dài của người khác, anh luôn thấy mình bất lực. Tất cả những kiến thức anh được học về kỹ năng chăm sóc mục vụ trở nên rỗng không và thừa thãi.

Sân nhà thờ buổi trưa vẫn đầy nắng. Gió vẫn nhởn nhơ thổi tung đám lá vàng bay tan tác. Chỉ có anh và vợ chồng bà Quản Vân ngồi như hóa đá trong văn phòng nhà xứ. Mỗi người theo đuổi một nỗi niềm riêng, nhưng chia nhau cùng một tâm trạng bất lực.

Càng ngày anh càng nhận ra mình bất lực trước nhiều việc. Hồi mới ra trường, nghĩa là hồi vừa được thụ phong và mới được bổ nhiệm về giáo xứ, con tim của anh ắp đầy nhiệt huyết và bao lý tưởng đẹp lắm. Anh đã từng tin rằng với những người dám tin cậy vào Thiên Chúa, không gì là không thể làm được. Xứ đạo nơi anh được gởi về là một vùng kinh tế mới, ở một huyện vừa mới lên Thị Trấn. Xuất thân là dân xã hội học, anh nhìn vào xứ đạo của mình không chỉ bằng cái nhìn thiêng liêng, nhưng còn bằng óc phân tích xã hội. Anh nhìn ra được cả những điểm sáng và điểm tối trên cánh đồng mình được gởi đến. Anh nhận ra rất nhiều tiềm năng còn ngủ vùi chưa được đánh thức đúng mức. Anh cưu mang rất nhiều hoài bão và kế hoạch lớn lao dành cho đoàn chiên được trao phó trong tay mình.

Hai năm đầu đời làm cha xứ là thời gian để cho lý tưởng của anh và thực tế của cuộc sống cọ xát. Bằng sức của mình, anh vốn không thể rút ngắn cái khoảng cách giữa lý tưởng và thực tế. Đó là bài học đắt giá đầu tiên mà anh phải nhọc nhằn cảm nếm.

Đã có người gọi anh là ông cha lập dị. Anh chấp nhận mang cái tiếng đó vào người, còn vui nữa là khác!

Ngày đầu tiên về nhận xứ mới, người ta dẫn anh đi  chào hỏi những người có địa vị thế giá trong địa phương. Anh tưởng chào hỏi chỉ dừng lại ở những lời  chào và những câu hỏi thăm, hay cái bắt tay thân mật và hứa hẹn tốt đẹp trong tương quan cùng cộng tác với nhau để lo cho dân. Sau câu chào, người ta đòi mâm cỗ. Người ta gọi đó là “biết sống”. Những người có trách nhiệm trong giáo xứ truyền đạt cho anh kinh nghiệm ngoại giao nhiều năm: phải biết khôn khéo đi đêm với họ để được việc của mình. Chưa phải đi sâu vào nghĩa của từ “đi đêm”, anh đã nhận thức rất rõ đó là việc càng ngày càng tạo thêm những mảng tối và càng đẩy xã hội mà anh muốn xây dựng tuột một cách không thể vãn hồi xuống đáy vực. Vì không thể cộng tác, anh đành chấp nhận mang tiếng lập dị. Cộng với tiếng lập dị, anh nhận luôn cái nhận xét “Cha còn non quá, chưa biết s đời!”

Anh thích đi chơi với đám trẻ con. Ngày đầu tiên, anh mở toang cánh cửa ngăn cách giữa nhà xứ và nhà thờ, thấy đám nhóc nào đi ngang anh cũng đưa tay vẫy vẫy. Quà gặp mặt cho bọn trẻ là vài viên kẹo ngọt, vài bọc snack. Chẳng bao lâu mà căn phòng nhà xứ đã đầy đám trẻ con, lúc nào cũng ồn ào vui nhộn. Người lớn vào trước phòng anh thường cứ phải khép nép “d thưa” trước cửa. Chỉ có đám con nít là tự do chạy nhảy hò hét như thể ở nhà. Lắm khi người ta còn thấy anh tham gia hò hét chung với đám nhóc. “Cha xì tin quá, chng có tí mc thước nào!” Không sao. Trẻ con là tương lai của giáo hội mà!

Nhưng rồi có nhiều lúc anh bất lực nhìn những “tương lai” ấy lớn lên dưới sự ảnh hưởng của văn hóa truyền thông được thả lỏng tràn lan. Có những đứa trẻ vào ngồi ghế đá nhà xứ chỉ vì nhà xứ có wifi chạy nhanh, cắm mặt vào chiếc điện thoại mà quên trời quên đất. Anh thấy sự dễ thương của mình, những món quà nho nhỏ của mình, những lời hay ý đẹp của mình… cũng không thể kéo bọn nhóc ra khỏi cái màn hình điện thoại. Một thế giới ảo và xa lại hấp dẫn hơn thế giới thực và gần ngay trước mắt. Chỉ cần có chiếc điện thoại và wifi, mọi thứ khác liền trở nên vô hình.

Anh bất lực trước trường hợp lỡ dại của những đứa trẻ chưa kịp sống thời thiếu nữ thì đã mang cái tiều tụy khủng hoảng của người thiếu phụ. Anh càng bất lực khi không thể “phạt vạ”, như một số người lớn tuổi trong xứ vẫn thường đòi hỏi và lý luận: để gìn giữ lề thói của làng xóm và khuôn phép của đạo nghĩa. Ai nói gì thì nói, anh vẫn là kẻ ngoan cố trong xác tín của mình: vòng tay của một vị linh mục không được phép khép lại trước những lỡ lầm của người khác. Có thể có rất nhiều luật, nhiều lệ, nhiều chuẩn mực phép tắc… đã kéo dài trong suốt dòng truyền thống. Nhưng mẫu gương của Đấng mà anh yêu mến và quyết noi theo không cho phép anh nói lời kết án. Anh hạnh phúc lắng nghe lời phê phán: “Trái tim cha mm quá!”

Anh là người đứng ra thông báo với vợ chồng bà Quản Vân về tin con bé nhà ông bà “lỡ dại”. Con bé vừa mang vóc dáng thiếu nữ chưa được bao lâu, thì đã dại dột có mang với một đứa bạn cùng xóm. Ngoài anh, nó không dám thú nhận với ai. Nó nhờ anh can thiệp để thông báo với gia đình của nó, để nói chuyện với gia đình bên kia…

Sau những thủ tục cần thiết, anh làm lễ cưới cho hai đứa nhỏ. Lễ cưới diễn ra trong nhà thờ. Thế là có cớ để nhiều người dị nghị và đàm tiếu. Con bé ăn cơm trước kng, mang cái bng càng ngày càng phình to ra như vy mà cha vn cho làm l trong nhà th. Thit là… 

Xuất thân là dân thành phố, anh biết rất rõ rằng để cái bụng càng ngày càng phình to chưa phải là điều kinh khủng nhất trong số những tội mà con người hiện đại có thể mắc phải. Anh đã thấy có rất nhiều cô gái buông tuồng theo lối sống hư hỏng, và chưa bao giờ để cho cái bụng mình phải phình to. Không lẽ như vậy mới được xét là xứng đáng được làm lễ trong nhà thờ? Anh đã thấy rất nhiều cảnh thương tâm của những cô gái lỡ dại, có cả những cô gái được sinh ra trong gia đình công giáo, vì áp lực của thể diện gia đình, vì những toan tính ích kỷ và thực dụng, đã chấp nhận giải pháp không để cho cái bụng mình phải phình to. Để che đậy một tội, người ta lại phải phạm một tội khác lớn hơn. Với người trẻ của thời hiện đại, phạt tội liệu có còn là phương pháp giáo dục tốt nhất để gìn giữ lề thói đạo nghĩa không? Răn đe và nghiêm cấm liệu có còn là cách tốt nhất để giáo dục lương tâm không? Còn có cách nào khác để vẽ lại dung mạo của một Giáo hội bao dung và từ nhân hơn? Giá trị của một con người và giá trị của luật lệ, điều gì nên đặt lên trên?…

Càng và chạm nhiều với thực tế, anh càng gặp nhiều cảnh đời đau lòng. Những cảnh đời đau lòng đặt ra cho anh nhiều câu hỏi vô phương trả lời, nếu chỉ dựa trên những gì anh đã được học, dựa trên những phương tiện anh đã được trang bị, hay dựa trên những luật lệ mà trước đây anh đã từng trân giữ và xác tín. Càng bước đi trong hành trình của một người mục tử, anh càng thấy rằng rốt cuộc mình chỉ có thể là một cha xứ dở.

Là một cha xứ dở, vì anh không chấp nhận đóng cửa ở lì trong nhà xứ, trong một khuôn viên bình yên và miễn nhiễm, để giữ cho mình được an toàn, để giữ cho cái oai của mình không bị ai xem thường. Anh chấp nhận những bầm dập của va đập, của lời ra tiếng vào. Anh chấp nhận hình ảnh của mình bị xấu đi dưới mắt một số người, để đi tìm và cứu những cuộc đời đang cần được cứu vớt.

Làm cha xứ thì anh đã là một cha xứ dở rồi. Anh chỉ xin cho mình được làm một mục tử thấm mùi của chiên…

Cao Gia An, S.J.  –  Roma 2017

Một Cuộc Đời Để Sống

Thương tặng các bạn trẻ
Khóa tĩnh tâm La Saulce, France
30.04-01.05/2017

1. “Chị Hai” đi lấy chồng, mà chồng chị không phải là anh Hai. Anh Hai mới là anh thiệt của Út, còn “Chị Hai” chỉ là chị hàng xóm. Út cả gan gọi chị là “Chị Hai” vì thấy anh với chị cứ như một cặp trời sinh: ở cùng làng, học cùng lớp, chơi thân với nhau từ nhỏ tới lớn. Cả khi anh hai đã đi lên thành phố đi làm, “Chị Hai” vẫn thường sang nhà và chăm sóc cho Út như một chị hai đúng nghĩa.

Đùng một cái chị đi lấy chồng, mà chồng chị không phải là anh Hai.

Người lớn thường nói rằng người ta thành chồng thành vợ với nhau là nhờ duyên phận. Chắc duyên phận không phải là tình yêu, bởi nếu duyên phận là tình yêu thì chị và anh Hai của Út phải là vợ chồng với nhau chứ!

Thằng Út dám chắc rằng chị chưa yêu ai nhiều hơn yêu anh Hai của Út. Nó nhận ra điều đó qua ánh mắt của chị vào buổi sáng chị tiễn anh Hai của nó ra xe lên thành phố. Chị chưa nhìn ai như thế. Anh hai của Út cũng chưa từng nhìn ai như thế. Ánh mắt của họ quyện lấy nhau lấp lánh, trao gởi tất cả những hứa hẹn và hy vọng. Tưởng rằng ánh mắt ấy đã buộc đời họ vào nhau, vậy mà…

Trong mắt thằng Út, chị đẹp và trong trẻo đến độ nếu có một bàn tay nào chạm vào chị, mà không phải là bàn tay của anh Hai, thì đó sẽ là một sự xúc phạm. Thằng Út từng hứa sẽ bảo vệ chị đến cùng, sẽ bảo vệ tình yêu của anh chị đến cùng.

Nhưng bảo vệ sao được khi chính chị đã gật đầu trước lời cầu hôn của người khác. Thằng Út làm được gì nữa đâu khi chính chị đã biểu nó từ nay đừng có kêu chị là “Chị Hai” nữa. Chị nói mà ánh mắt buồn so. Nó nhớ lại ánh mắt vừa e thẹn vừa lấp lánh niềm vui của chị khi lần đầu tiên nó cả gan gọi chị là “Chị Hai”.

Cũng là tại duyên phận, cái duyên phận đáng ghét!

Chồng của chị là anh Hải, bạn cùng lớp với anh Hai. Nó biết anh Hải đã âm thầm theo chị và thương chị lâu lắm rồi, từ ngày cả ba người cùng chơi chung với nhau trong một nhóm. Một thời gian rất dài, chị đã chọn đi chung với anh Hai của nó, mặc dù nhà anh Hải giàu hơn và anh Hải nhìn sang hơn anh Hai của nó rất nhiều.

Anh Hai rõ là đáng ghét. Anh biết nhà anh Hải đã ngỏ lời dạm hỏi chị, vậy mà mặt cứ tỉnh bơ như không có chuyện gì. Trước ngày chị nhận lời anh Hải, anh Hai còn từ thành phố về, dắt theo một người, giới thiệu là “người yêu”. Anh Hai nói mà không dám nhìn thẳng vào mắt chị, cũng như anh chẳng bao giờ một lần nhìn thẳng vào mặt người mà anh gọi là người yêu. Anh Hai tưởng làm như vậy sẽ xí gạt được Út sao? Yêu cái nỗi gì chứ!

2.

Anh về. Nhưng anh đã không còn là anh nữa. Quả nhiên đúng như điều mà nàng hằng lo sợ. Phố thị nơi xa đã tách anh rời khỏi nàng, và trả lại cho nàng một người hoàn toàn khác lạ… Nàng đã từng hứa với mình sẽ giữ lòng chung thủy với tình yêu của anh, bất chấp cuộc đời đổi thay sóng gió. Nhưng giữ sao được, khi chính anh đã thay đổi!

Ngày anh ra đi, họ đã hứa hẹn với nhau nhiều điều lắm. Anh nói nhà hai đứa còn nghèo quá, anh còn một bầy em nữa, anh phải lên thành phố để làm ăn và phụ giúp cho gia đình trang trải nợ nần. Anh hẹn sau ba năm, khi đã có việc làm ổn định, đã để dành được một số vốn tương đối, anh sẽ về cưới nàng. Vậy mà…

Anh lên thành phố rồi, những cuộc điện thoại cứ càng lúc càng thưa dần. Giọng nói của anh trong lòng nàng cứ càng ngày càng nhạt dần, rồi như tắt hẳn. Người ta vẫn nói xa mặt cách lòng, lời hứa gió bay. Nàng đau lòng khi nhận ra tình cảm của hai người chừng như không qua nỗi bài toán thử của thời gian. Anh như cánh chim đã bay xa thật xa. Nàng làm sao níu giữ…

Ngày đó, nàng chọn anh vì từ nhỏ anh đã là đứa con thảo hiếu. Nàng nghĩ, là một người con chí hiếu thì mới có thể là một người chồng chí tình và là một người cha mẫu mực. Nhưng từ ngày bước chân ra đi, anh như đã không còn giữ tròn đạo hiếu nữa, không còn hướng gì về gia đình nữa. Anh cứ đi biền biệt không về, cả những ngày giỗ chạp và Tết nhất. Mỗi lúc qua nhà anh dự tiệc tùng họp mặt, nhà thì đông, người thì đông, nhưng lòng nàng vẫn cứ trống trãi quá chừng. Cả nhà dường như cũng không muốn nhắc tới anh nữa…

Tới năm thứ ba, nàng bất ngờ thấy ảnh của anh xuất hiện trên một số trang mạng xã hội. Có vẻ như anh tham gia nhiều hoạt động với các bạn bè của anh ở thành phố. Có vẻ như anh đã làm được nhiều việc. Có vẻ như anh đã có rất nhiều bạn bè. Với cây đàn guitar, anh như lúc nào cũng là tâm điểm của mọi cuộc hội tụ. Có vẻ như anh đã tìm được thế giới riêng của mình. Trong thế giới đó, có vẻ như chẳng có chỗ nào cho nàng chen chân vào nữa…

Anh về, còn vui vẻ giới thiệu với nàng người yêu của anh. Chị ấy là người thành phố, da dẻ trắng trẻo mịn màng, ăn mặc đúng kiểu sành điệu, chứ đâu có quê mùa như nàng.

Nàng không gật đầu với Hải sao được khi chính anh là người cố tình đẩy nàng về phía Hải. Với anh, càng ngày nàng càng thấy mình không được yêu thương và trân trọng. Trong khi Hải thì luôn ở đó bên cạnh nàng, nhất là những lúc nàng buồn tủi và cô đơn nhất…

3.

Gặp lại nàng sau ba năm, trái tim anh thổn thức muốn nổ tung. Vẫn dáng người đó. Vẫn ánh mắt đó. Thân thương với anh biết là chừng nào… Nàng đó, mà như xa cách đến nghìn trùng. Là lỗi do nàng? Hay lỗi do anh? Hay đơn giản vì cuộc sống là thế, và không ai đáng bị xem là người có lỗi?…

Ngày ra đi, anh mang nơi lòng mình bao nhiêu là ước vọng.

Nhưng thành phố làm gì có chỗ cho những người chỉ biết ước vọng mà cô thân cô thế. Là kẻ học hành dang dở, anh có thể làm được gì ở thành phố này, nếu không phải là làm mướn? Anh đã sống những tháng ngày cù bơ cù bất trên đường phố, bất lực trong việc muốn tìm cho mình một chỗ đứng giữa phố thị rộng mênh mông. Thành phố trong thực tế rất khác so với những hình ảnh mà anh được biết trên Tivi, hay trong những câu chuyện kể của những người trong làng.

Tới khi làm quen với một nhóm bạn bụi đời lang thang trên đường phố, anh được giới thiệu vào phụ việc cho một quán ăn. Anh đi phụ quán ban ngày, đêm đêm lại ôm guitar đi hát dạo cho các phòng trà. Với một kẻ khả năng nửa vời như anh, tìm được một chỗ để hát lót đường thôi đã là một cái may…

Cuộc sống cứ trải qua trong lây lất, con đường tương lai phía trước chẳng thấy có gì sáng tươi.

An ủi lớn nhất của anh là trong xóm trọ nghèo nơi anh ở có một nhà thờ nhỏ. Phần lớn giáo dân của nhà thờ đều là những người nhập cư du thủ du thực như anh. Nhà thờ cũng chung chia số phận với xóm nghèo, lụp xụp và còn nhiều thiếu thốn. Khuôn viên của nhà thờ không đủ thoáng và không đủ rộng, quang cảnh không đủ đẹp và càng không đủ sang. Nhưng đó là vùng trời bình yên của anh. Những ngày làm việc dù có bận rộn đến đâu, anh cũng tranh thủ dành cho mình một giờ ngồi lại trong nhà thờ. Có khi là để tham dự Thánh Lễ chiều. Có khi là dự một giờ cầu nguyện chung với các nhóm. Có khi chẳng làm gì cả, chỉ đơn giản vào đó để ngồi yên, để cho tâm hồn của mình được lắng lại… Có những lúc khó khăn, anh đến để trách Chúa. Anh hỏi giữa thế giới rộng mênh mông này, có chỗ nào cho những kẻ nghèo đi tìm ước mơ của đời mình không? Anh hỏi Chúa có thật sự thương và luôn ban phước cho những người nghèo cô thế cô thân như anh không? Anh hỏi nhiều câu hỏi lắm. Nhưng chưa bao giờ anh nhận được câu trả lời. Thế nhưng những thời khắc ngồi lại một mình trong căn nhà thờ nhỏ bé ấy là những thời khắc kỳ diệu nhất. Tất cả những ấm ức và tù túng trong lòng anh như được thả rơi vào một khoảng không mênh mông. Tất cả những mệt mỏi và gánh nặng với cuộc sống như tan biến. Vậy là anh lại có sức mạnh bước tiếp… Cũng từ nơi ngôi nhà thờ bé nhỏ ấy, anh quen với một nhóm thiện nguyện Công Giáo. Anh tham gia những hoạt động bác ái, hướng đến những mảnh đời còn nghèo khổ và bất hạnh hơn mình. Anh bắt đầu có những người bạn thật sự nơi xứ lạ…

Tết năm đầu tiên xa nhà là kỷ niệm buồn nhất trong cuộc đời của anh. Bố mẹ trách sao anh không về. Ai lại không muốn về. Nhưng làm sao có thể mang thân không túi không mà về nhà? Anh là kẻ đi làm ở thành phố về, ít là phải có chút quà để chào hỏi họ hàng cô dì chú bác cậu mợ các anh các chị các em các cháu… Người ta nhìn anh như kẻ đã đổi đời, và người ta có quyền đòi hỏi những kẻ đã đổi đời phải có trách nhiệm với những người khác. Chỉ có anh mới biết, cái giá để được gọi ‘đổi đời’ là gì.

Thay vì để tiền mua vé tàu và quà cáp về quê, anh gởi toàn bộ khoảng tiền dành dụm trong một năm về cho gia đình. Lý do không về Tết của anh chỉ đơn giản: con còn bận làm việc. Chưa bao giờ anh muốn kể cho ai nghe về những chật vật trong cuộc sống của mình ở thành phố. Ai cũng nghĩ anh đã có công ăn việc làm ổn định. Ai cũng nghĩ chắc anh ham làm giàu…

Bố mẹ giận, bảo không cần tiền của anh. Nhưng anh biết, không cần sao được. Anh chấp nhận ở lại thành phố, làm thêm cả những ngày cuối năm để có thêm chút tiền thưởng. Cuộc sống của anh là vậy. Anh buồn một mình cũng được. Miễn sao bố mẹ và mấy đứa em ở nhà có một cái Tết tươm tất hơn, không phải tủi thân tủi phận với xóm làng.

Anh tự nguyện bán đi tương lai của mình, gọi là để tròn đạo hiếu.

Anh tự nguyện buông tay với mối tình mình khắc cốt ghi tâm, chỉ vì càng lúc anh càng nhận ra rằng mình vẫn chưa có cách chi thực hiện được lời hứa có việc làm ổn định, có một số vốn tương đối… Thời gian thì cứ qua. Tuổi xuân thì có ngần có hạn…

Hải là đứa bạn thân của anh từ thuở nhỏ. Anh biết Hải có thể chăm sóc nàng chu đáo và có thể mang lại cho nàng một cuộc đời hạnh phúc hơn anh rất nhiều. Thế nên anh trở về quê, sau ba năm đi làm ăn xa. Để tự tay mình cắt đứt duyên tình. Để nói với người ta rằng anh đã tìm được cuộc sống của riêng mình. Rồi anh lại đi…

4.

Khi thằng Út lên thành phố học thì anh đã không còn ở gần nó nữa. Anh theo chân đoàn người đi xuất khẩu lao động ở một đất nước xa thật xa và lạ thật lạ. Tin tức về anh mỗi ngày một ít. Có lúc nghe đâu anh đi phụ việc trong một nhà hàng của người Việt. Có lúc lại nghe nói anh đang trồng rau trồng cỏ cho một nông trại nào đó, suốt ngày phải ở dưới lòng đất, trong những căn phòng kín chỉ được chong bằng đèn điện. Có lúc lại có tin anh đã bị bắt giam vì tội nhập cư không có giấy tờ và lao động bất hợp pháp trên xứ người… Tin tức về anh mỗi ngày một thưa, mỗi lúc một khác. Chỉ có tiền anh gởi về cho gia đình là vẫn đều đặn.

Phải chăng đó là cách anh chọn để sống cuộc sống của riêng mình? Anh chỉ sống cho những người khác, những người mà mình thương yêu, và chưa bao giờ nghĩ tới việc phải sống cho chính mình… Phải chăng đó là cách anh gọi là tròn đạo làm con, trọn nghĩa làm người?

Càng ngày thằng Út càng gặp nhiều người nơi quê hương mình sống cuộc đời như anh nó. Những đứa con được sinh ra, lớn lên, đi làm ăn xa, khắc sâu trong lòng mình chữ đạo chữ hiếu. Họ bán đi cái quê hương xứ xở trong lòng mình, bán đi cả tuổi xuân của mình, bán luôn bao nhiêu là ước vọng của riêng mình. Có những đứa trẻ sớm bị đẩy ra ngoài đường phố, lam lũ với nắng với mưa và với gió bụi cuộc đời. Có những đứa con được gả bán đi, ngơ ngác trong hành trình làm dâu xứ lạ. Có những người trẻ tìm cách ra đi, đau đáu với khác vọng đổi đời, khát vọng về một cuộc đời phồn vinh no ấm cho mình, cho gia đình, cho quê hương mình…

Thằng Út nghĩ về những thay đổi trong lối sống của nhà nó, của quê nó. Những bữa tiệc tùng lễ lạc. Những cái nhà càng ngày càng đẹp ra. Những trang thiết bị ngày một mới một nhiều. Những bộ bàn ghế. Tủ lạnh. Máy giặt. Đầu đĩa xem phim. Dàn loa nghe nhạc. Tivi màn hình phẳng… Đâu là cái giá phải trả? Đâu là đánh đổi? Đâu là mất mát?

Có ai biết anh Hai của thằng Út giờ lưu lạc ở phương trời nào không? Có ai biết còn có một tương lai nào cho những người sống cuộc đời như anh Hai của thằng Út không?

Cao Gia An, S.J.

Đỉnh Cao Nghệ Thuật

Bắn ná là một nghệ thuật!

Câu tuyên bố vung vít của thằng Trung có sức tác động ghê gớm. Nó cứ ám ảnh tâm trí Việt suốt mấy ngày nay. Có lẽ sức tác động ghê gớm ấy không đến từ nội dung của câu tuyên bố, nhưng từ người tuyên bố. Thằng Trung người to lớn kềnh càng. So với nó, đám nhóc cỡ Việt và bọn bạn của Việt chỉ đáng được coi là đám nhóc. Thằng Trung ý thức rất rõ về lợi thế của mình, nên trong bất cứ trường hợp nào, ở bất cứ nơi nào, về bất cứ chuyện gì, nó đều là đứa có tiếng nói. Không cần ai bầu báng chỉ định, nó hành xử tự nhiên như là thủ lãnh của cả bọn nhóc.

Nếu bắn ná là một nghệ thuật, người bắn ná hẳn là một nghệ sĩ! Trong mắt bọn nhóc, nghệ sĩ không phải là những người chỉ biết đi qua đi lại diễn tuồng trên sân khấu. Nghệ sĩ là người có một cái oai tự nhiên. Ngày đầu tiên thấy thằng Trung giắt cái ná bên hông, cả đám nhóc nhìn theo và lòng thầm phục sát đất. Từ đầu làng đến cuối làng, thằng Trung cứ thẳng một đường mà đi, chả thèm để mắt tới ai, tự tin và kiêu hãnh như thể cả làng này là cái sân khấu của riêng nó.

Kể ra thì trong đám nhóc cùng làng, Việt là kẻ được thằng Trung coi là ít nhóc nhất. Có lẽ nhờ Việt nhỏ mà lanh. Gặp nó, lúc nào thằng Trung cũng một tiếng “chú em” hai tiếng “chú em”. Đáp lại, lúc nào nó cũng một tiếng “ông anh” hai tiếng “ông anh”. Chả biết tự bao giờ bọn nó trở nên như một đôi bạn vàng thân thiết trong ngôi làng nhỏ bé ấy.

Từ ngày nhìn thằng Trung đeo ná, lúc nào Việt cũng ước có được một cái ná như của thằng Trung. Điều ước ấy len cả vào trong giấc mơ của nó. Trong mơ, nó thấy mình là nghệ sĩ đeo ná đi kè kè bên cạnh thằng Trung. Không biết đeo ná để làm gì, nhưng cái oai của người “nghệ sĩ” cứ lấp lánh hào quang trước mắt nó. Nó nghĩ, là con nít, đâu cần phải mơ gì cho cao cho xa. Chỉ cần một lần được thấy mình bằng người ta thôi thì đã là sung sướng cái cuộc đời rồi. Thằng Trung có ná, nó thấy như cái khoảng cách giữa mình và thằng Trung lại xa hơn một bậc. Trước đây nó không nghĩ mình nghèo. Chỉ tới khi nhìn thấy cái có của người khác nó mới giật mình nhìn lại mình. Vậy là nó buồn…

Nhưng thằng Trung quả đáng mặt một “ông anh”. Nó như đi guốc trong lòng của Việt. Nhìn cái mặt Việt buồn buồn, nó đoán biết ngay thằng này muốn gì. Vậy nên một hôm nó rủ:

  • Ê, chú em! Muốn xem anh mày biểu diễn bắn ná không?
  • Biểu diễn bắt ná là sao? – Việt vội vàng hỏi, mặt vừa ngờ ngệch vừa háo hức.
  • Chú em khờ quá! Chả phải ta đã nói bắn ná là một nghệ thuật sao! Nghệ thuật thì phải biểu diễn chứ? – Thằng Trung vừa nói tay vừa vung vung chiếc ná theo đúng phong cách của một nghệ sĩ.
  • Ờ… mà biểu diễn thì phải có khán giả chứ, đúng không ông anh?
  • Đúng rồi. Vậy nên ta mới rủ chú em!
  • Khán giả càng đông thì mới càng hào hứng chứ, phải không ông anh? – Việt hỏi tiếp.

Khựng một tí, rồi thằng Trung lim dim đưa mắt nhìn Việt:

  • Ý chú em là sao? Muốn dọn đường cho bọn nhóc trong cả làng luôn à?
  • Dạ, ông anh… – Giọng Việt bắt đầu lí nhí.
  • Thôi dẹp! – Thằng Trung gạt ngang – Cái bọn nhóc hỉ mũi chưa sạch thì biết gì về nghệ thuật mà xem. Chỉ tổ làm vướng chân anh mày!

Nói thì nói vậy, nhưng buổi trưa ngày hôm sau có cả một đám nhóc tập trung ở cuối vườn nhà thằng Trung. Đó là một mảnh đất rộng, giáp ranh với vườn nhà Việt qua cái hàng rào dâm bụt. Khu vườn buổi trưa mát rượi và lảnh lót tiếng chim.

Bắt đám nhóc đứng gọn qua một bên để khỏi làm… cản đường đạn bay, thằng Trung khệnh khạng bước ra giữa vườn. Nó hếch mặt nhìn bọn nhóc. Trên đầu nó đội một cái mũ rộng vành, giắt bên hông cái ná thun, oách đúng kiểu của cao bồi viễn Tây Lucky Luke. Lạng một hồi, chàng cao bồi cuối cùng cũng bước vào bãi tập, nâng ná, và bắn. Mục tiêu là một cái lon sữa bò đựng đầy cát, đặt trên đầu cây cọc gỗ, cách khoảng vài mươi bước. Phựt… Viên đạn đá vụt lao đi. Lon sữa bò vẫn còn nằm nguyên vẹn như thách thức trên đầu cây cọc gỗ. Nhìn đám nhóc đang há miệng chưng hững, nghệ sĩ Trung lên tiếng phân bua:

  • Ây dà, bậy quá. Tao quên… lẽ ra phải kéo cho giây thun giãn đều trước khi bắn, Dây thun cũng cần phải được khởi động thì mới chuẩn…

À, ra là tại dây thun! Lần thứ hai là tại gió thổi mạnh quá làm lệch đường đạn bay. Lần thứ ba là tại mặt trời nắng gắt quá làm chói mắt. Lần nữa là tại đứa nào đó trong đám nhóc bị nhảy mũi đột ngột làm thằng Trung giật mình… Khi niềm háo hức trong đám nhóc tưởng chừng đã xẹp xuống thì bỗng… Phựt… Bụp. Cả đám nhóc nhảy cẫng lên reo hò. Lon sữa bò bị viên đạn đá hất tung lên trời. Cát từ trong lon bắn ra tung tóe. Những viên cát nhỏ xíu lấp lánh dưới ánh nắng trưa, đẹp lung linh như những ngôi sao dưới mắt của Việt.

Sau buổi “biểu diễn nghệ thuật” của thằng Trung, Việt càng nung nấu ước mơ có một cái ná. Một buổi trưa, nó hẹn thằng Trung ra ngoài góc vườn để thổ lộ. Dĩ nhiên, Việt không quên mang theo một bịch ổi mới hái từ trong vườn để lấy lòng ông anh.

  • Đâu phải muốn có là có đâu chú em! – Vừa cắn ổi thằng Trung vừa phán – Phải xem coi chú em có làm được gì không đã?
  • Làm được gì là làm được gì á? – Việt thiệt thà hỏi.
  • Chú em ngu quá! Là phải có tiền. Tiền mua giây thun nè. Tiền mua miếng da nệm nè. Tiền công người ta đẽo gỗ để làm cái khung ná nè. Bộ chú em tưởng cứ ra đường ngơ ngơ ngáo ngáo là lượm được một cái ná đem về chắc!
  • Vậy thì thua rồi. Em đâu có tiền đâu…
  • Không có tiền chú em không biết kiếm chắc!
  • Em đâu biết làm sao để kiếm tiền…
  • Nói chuyện với chú em thiệt là mệt quá. Thử nhìn một vòng coi coi, nhà chú em có cái gì bán được không?
  • Nhà em làm gì có cái gì…
  • Vậy thì thôi, khỏi mơ ná niếc gì nữa hết!

Nhìn cái mặt buồn so của Việt, thằng Trung đảo mắt láo liêng một hồi để suy nghĩ. Như thấy ra được chuyện gì, nó kề miệng vào tai Việt thấp giọng thầm thì:

  • Nè, ta chỉ chú em cách này. Bảo đảm kiếm được tiền!
  • Cách gì, cách gì, ông anh chỉ em đi! – Giọng Việt háo hức, cái mặt nó tươi tỉnh lên thấy rõ.

Chỉ tay về góc vườn nhà Việt, giọng thằng Trung bí mật:

  • Đó đó, thấy không?
  • Đó đó là cái gì, em có thấy cái gì đâu…
  • Chú em thiệt là! Đó đó là cái buồng chuối xanh ở cuối vườn nhà chú em đó!
  • Buồng chuối xanh nhà em sao?
  • Buồng chuối đó mà cắt bán thì cũng được một mớ tiền chứ sao.

Hình như bắt đầu hiểu ra chuyện, Việt giãy nãy:

  • Thôi đi, ông anh xúi dại. Ba em mà biết được thì em có mà nát mông…

Không để cho Việt dứt lời, thằng Trung chen ngang bằng cái giọng dè bĩu:

  • Đồ thỏ đế! Vậy mà cũng đòi làm nghệ thuật. Không dám hy sinh mạo hiểm mà cũng bày đặt muốn làm chuyện lớn!.. Thôi. Ta chỉ nói vậy thôi. Làm hay không, tùy chú em đấy!

Nói xong, thằng Trung ngủng ngoẳn quay đít đi, không quên tiện tay xách luôn bọc ổi còn sót lại vài trái. Trước khi khuất hẳn sau hàng rào dâm bụt, nó còn giơ tay vung vung chiếc ná về hướng Việt. Những sợi dây thun vàng óng đong đưa sáng lên dưới ánh nắng trưa. Việt bặm môi đứng dậy, cương quyết như đã tính xong chuyện của mình.

Hai tuần sau. Việt lại rủ thằng Trung sang vườn nhà nó ăn chè. Nó hỏi:

  • Cái ná của em đâu?
  • Ná gì?
  • Ná ông anh hứa sẽ mua và làm cho em. Ông anh đã nhận tiền của em rồi còn gì.
  • Xời, chú em… tưởng mấy đồng bạc cắc của chú em lớn lắm sao. Nhiêu đó chỉ mới đủ để mua dây thun thôi! Còn thiếu nhiều thứ khác nữa…
  • Vậy là sao?
  • Là chú em phải tìm cách kiếm thêm bạc cắc đi. Khi nào đủ, tự nhiên sẽ có cái ná thôi…

Vậy là sau buồng chuối, Việt lại lụi hụi đi đào măng tre, cặm cụi đi lượm hạt điều… Cuối cùng thì cũng có cái ná. Thằng Trung đúng là ông anh tốt, Việt nghĩ, hơi đòi hỏi nhưng mà không nuốt lời!

Mâm mê chiếc ná trong tay, mắt Việt vui người vừa mới hái được sao trên trời. Nó đưa cái ná sát mũi, hít hít mùi dây thun mới thơm phưng phức. Vậy là từ nay nó có thể chính thức bước chân vào làng nghệ thuật. Vậy là nó đã chạm tay vào giấc mơ làm nghệ sĩ.

“Muốn làm nghệ sĩ thì phải học!”

Thằng Trung tuyên bố như thế khi trao chiếc ná cho Việt. Mà muốn học thì phải có thầy. Là người đầu tiên khai sinh nghệ thuật bắn ná ở cái làng này, nên thằng Trung tự nhiên trở thành thầy của Việt.

Ngày đầu tiên, thằng Trung tài lanh chỉ bảo la hét đủ điều:

  • Gồng thẳng tay lên. Khum chân xuống. Nheo mắt lại, mở cả hai mắt ra thế kia thì làm sao nhắm được đường đạn. Cầm thẳng cái ná lên, nghiêng nghiêng như vậy thì làm sao mà bắn…

Phựt… Lời thằng Trung còn chưa dứt thì viên đạn đá đã vuột khỏi tay ná và đập thẳng vào chiếc lon sữa bò. Bụp…

Hình như Việt được sinh ra là để bắn ná. Nó thủ thế, giương ná, ngắm bắn, mà động tác tự nhiên cứ như người ta ăn cơm. Cầm thẳng, cầm nghiêng, đứng cao, đứng thấp… làm cách gì thì viên đạn trong tay Việt cũng biết cách tìm đường đến đúng cái mục tiêu. Cứ như là phép thuật! Buổi tập đầu tiên của Việt làm thằng Trung trợn mắt ngơ ngác. Hình như trong mắt nó có một chút màu ganh tỵ. Một chút thôi. Sau đó hình như màu ganh tỵ nhường chỗ cho sự tính toán…

”Nghệ sĩ thì phải có đất biểu diễn!”

Thằng Trung lại có ý kiến. Biểu diễn thì phải vui, chứ quanh đi quẩn lại hoài với cái lon sữa bò thì chán òm. Vậy nên thằng Trung nảy ra sáng kiến trưa trưa rủ Việt đi lang thang qua những khu vườn lân cận tìm mục tiêu. Mục tiêu đầu tiên tìm thấy không xa lắm. Chỉ vào chùm xoài lủng lẳng bên góc vườn nhà ông Ba Lào, nó phán:

  • Đó, mục tiêu của chú em trên cao kìa!

Phựt… Bụp… Nhìn trái xoài nát bét rớt dưới chân, thằng Trung vừa liếm mép vừa lắc đầu:

  • Chưa được, chưa được. Bầm dập thế này thì còn gì là nghệ thuật nữa chú em. Bắn làm sao trúng cái cuống, để mấy trái xoài rớt xuống mà không bị dập thì mới gọi là đạt tới mức nghệ thuật chứ!

Phựt… Bụp…

  • Giỏi lắm, giỏi lắm. Chú em cứ cố lên thế nhé. Nhìn mấy trái xoài ngon chưa này. Ta trưng thu đây, gọi là thù lao giảng dạy nghệ thuật vậy!

Trình độ nghệ thuật của Việt càng ngày càng tiến bộ. Không có mục tiêu nào trong tầm ngắm mà nó không nhắm trúng. Cây xoài nhà ông Ba Lào. Cây mận nhà bà Bảy Cam. Cây ổi nhà ông Tư Thái.  Cầm cái ná trên tay, Việt cứ như đã trở thành một người khác. Ánh mắt nó sáng lên thứ ánh sáng lạ lùng, vừa như là niềm say mê chinh phục, vừa như là nỗi khắc khoải đi tìm. Nhìn viên đá rời khỏi tay mình lao thẳng vào mục tiêu, lòng Việt thường rộn lên một niềm kiêu hãnh khó tả. Thằng Trung gọi đó là được sống thật với tố chất nghệ sĩ. Đi đâu nó cũng tự hào vì đã đào tạo ra được một đệ tử nghệ thuật thần sầu như Việt. Nghe thằng Trung tâng bốc mà lòng Việt cứ sướng rơn. Rõ là nhờ phát hiện khả năng bắn ná mà vị thế của nó đã thay đổi rõ rệt trong mắt thằng Trung. 

Sau một thời gian bắn trái cây. Thằng Trung lại có ý kiến:

  • Tay nghề của chú em khá rồi đấy. Nhưng chưa phải là đỉnh cao nghệ thuật đâu. Vẫn còn có mục tiêu khó hơn, chú em có muốn chinh phục không?
  • Mục tiêu gì vậy ông anh? – Việt hỏi ngay với giọng hớn hở – Khó là khó thế nào chứ?
  • Trước giờ chú em chỉ chơi với mục tiêu nằm im một chỗ thôi. Nó nằm im đó thì viên đạn tự bay tới đập vào nó là đúng rồi, có chi là nghệ thuật lắm đâu…
  • Vậy chứ sao thì mới là nghệ thuật lắm?
  • Mục tiêu chuyển động. Chuyển động mà chú em còn bắn bách phát bách trúng thì trình độ nghệ thuật mới thật đúng là quỷ khốc thần sầu.

Nghe cái từ “quỷ khốc thần sầu”, Việt thấy lòng mình sướng rơn, nó hỏi ngay:

  • Mục tiêu di động là cái gì?
  • Này nhé! Hàng dâm bụt giữa nhà chú em với nhà ta lúc nào cũng đầy chim sẻ. Chim sẻ nhỏ, lại nhanh. Chú em mà bắn được thì đúng là đỉnh cao nghệ thuật đó!
  • Sao lại không? Chim sẻ thì chim sẻ chứ…
  • Đúng rồi. Chim sẻ thì chim sẻ chứ! Thịt chim sẻ mà nướng lên thì ngon tuyệt cú mèo.

Đúng như thằng Trung nói, chim sẻ nhỏ, lại nhanh, lúc nào cũng chuyển động. Chim sẻ lại nhát, chỉ cần nhác thấy bóng người đến gần là bay mất tiêu. Để bắn, Việt phải đứng từ xa, giương ná, Phựt… Rào…. Chim đâu không thấy, chỉ thấy một mớ lá dâm bụt xanh ngắt rơi lả tả. Thằng Trung khoái chí vỗ tay:

  • .. Chú em thấy chưa! Đâu có dễ ăn…

Việt lại bặm môi giương ná. Phựt… Rào…

  • … Cố lên chú em! Còn cách đỉnh cao nghệ thuật xa lắm!

Liên tiếp ba buổi trưa Việt rình bắn chim sẻ bên hàng rào dâm bụt. Chờ hoài không thấy kết quả, thằng Trung đâm chán, không thèm làm ‘huấn luyện viên’ kiêm khán giả nữa. Bị bỏ lại một mình, Việt lại cặm cụi chinh phục mục tiêu của mình. Hình như lũ chim sẻ đã bắt đầu sợ. Hàng rào dâm bụt mấy nay đã thưa dần tiếng chim…

Phụt… Bụp… Đúng là âm thanh của đạn đập vào mục tiêu rồi, nghe mềm và êm quá. Sau mấy ngày lăn lộn, cuối cùng cũng có kết quả. Việt nhãy cẫng, tính hét lên gọi thằng Trung. Nhưng rồi nó kịp khựng lại, thận trọng chong mắt nhìn vào hàng rào chỗ viên đạn vừa lướt qua. Phải kiểm tra kết quả thật kỹ lưỡng, chứ không lại bị ông anh cười cho thúi mũi.

Việt thận trọng từng bước, tiến gần đến kết quả. Xác lá dâm bụt hãy còn rơi lả tả. Dưới chân nó, vài cánh hoa dâm bụt đỏ tươi bị dập nát. Vườn trưa lặng ngắt tiếng chim.

Cuối cùng thì nó cũng thấy kết quả từ làn đạn của mình.

Trên hàng rào, lấp ló trong vòm lá, xác con chim sẻ bị bắn chết treo. Viên đạn đập vào phần cổ, làm đầu con chim sẻ bị ngoẹo qua một bên. Một bên tròng mắt con chim nhỏ bị lồi ra, khiến con mắt như to hơn, trợn trừng ngơ ngác. Con chim sẻ không bị rớt xuống đất nhờ đôi chân còn bám chặt vào cây dâm bụt. Đôi chân bé xíu và co quắp.

Gió thổi qua, xác con chim sẻ đong đưa trên ngọn cây. Vài giọt máu rỉ ra từ miệng nó, chưa kịp nhỏ xuống đất thì đã bị gió cuốn dạt đi…

Đây là điều mà thằng Trung gọi là đỉnh cao nghệ thuật đó sao?

Việt rùng mình choáng váng. Nó lùi vội mấy bước, như sợ gió sẽ thổi tạt những giọt máu tươi bám vào người nó, như sợ mùi tanh của máu sẽ ám vào người nó. Đây không phải là kết quả mà Việt muốn thấy. Nhưng chẳng phải là điều mà nó đã theo đuổi bấy lâu nay đó sao?

Hóa ra suốt một thời gian dài nó đã cất công theo đuổi, nhưng thực chất lại không biết mình theo đuổi thứ gì. Hóa ra nó đã vất vả luyện tập cho mình một kỹ năng gọi là nghệ thuật, nhưng lại không biết đích xác đâu là đích đến cuối cùng của những vất vả ấy.

Nó nhớ đến giá trả. Nhớ đến những buổi trưa lén lút cắt chuối, hì hục đào măng, cặm cụi thu gom từng hạt điều. Để làm gì?

Nó nhớ đến những lời tung hô đường mật theo kiểu vừa đánh vừa xoa của thằng Trung. Nhớ đến những trái xoài vỡ nát, những chùm mận rụng rơi, những vòm lá xanh bị xé rách toạt dưới làn đạn của nó.

Nó nhớ đến những hạt cát bé xíu vung vãi trên nền trời khi viên đạn đầu tiên của thằng Trung chạm đích. Lấp lánh như thế, nhưng chẳng phải là sao trên trời.

Hóa ra những lung linh chỉ tồn tại trong mơ tưởng của nó thôi.

Sau tất cả, chỉ còn Việt đứng một mình, giữa vườn trưa lặng ngắt tiếng chim.

Cao Gia An, S.J.

Roma 01.06.2017

Trong Bóng Chiều Cuộc Đời

Vừa nghe tiếng tôi chào, bà đã buông lời trách móc :

– Cậu đó hả? sao lâu nay hổng chịu ghé thăm tui?

+ Dạ… con mới thăm bà hôm Chủ nhật tuần trước mà!

– Dzậy hả! mới có một tuần thôi hả? Dzậy mà tui tưởng là lâu lắm chứ! Tui mù lòa có biết gì đâu, buồn lắm cậu ơi! Có cậu dzô đây tui mừng lắm, thỉnh thoảng nhớ ghé thăm tui nghen cậu!…

Muốn cho bà vui, tôi đùa:

+ Dạ, bây giờ thì thỉnh thoảng con zô thăm bà, chứ ít bữa nữa con cũng già, rồi con vô đây ở chung với bà luôn cho vui hen

Thoáng mỉm cười hiện lên trên khuôn mặt nhăn nheo của bà. Nhưng sau đó là tiếng thở dài não ruột:

– Thôi đi cậu ơi! Cậu còn trẻ mà đã biết lo mần dziệc phước đức, thì cầu Trời Phật độ trì cho cậu, để cậu khỏi phải lâm vào cảnh như tui…

Rồi bà tiếp với cái giọng đều đều nhưng nghèn nghẹn và đầy bi phẫn:

– Sao trên đời này lại có những kẻ bất nhân như thế chứ! Khi chúng nó còn nhỏ, mồ côi bố mẹ, tui đem dzề nuôi, lo lắng chăm sóc cho tụi nó đầy đủ, tui có tiếc gì cho tụi nó đâu. Dzậy mà khi tui già, tui mù mần hổng ra tiền nữa thì bị tụi nó hắt hủi… Cậu biết không, nó đem chén cơm dằn xuống bàn trước mặt tui “Nè, ăn đi bà già mù. Đồ cái thứ báo đời!”. Bao nhiêu năm được tui nuôi dưỡng, cuối cùng tụi nó trả ơn bằng cách kêu xe xích lô tới chở tui đem đổ xuống trước cổng chùa này, như người ta trút một cái bọc rác!…

Tôi biết kí ức đang sống lại trong bà, miền kí ức đau thương và cay đắng không thể nào phai dù đã hơn hai năm trôi qua. Bà đã đi sắp hết cuộc đời làm người. Dấu ấn thời gian lưu lại trên khuôn mặt bà những nét nhăn nheo khắc khổ. Còn dấu ấn cuộc đời, lại nghiệt ngã hơn, hằn sâu trong lòng bà những vết thương không thể nào chữa lành được. Từ hai hốc mắt sâu hoắm không còn chút tinh anh của bà, đôi dòng lệ cuộn tròn, trào ra rồi chảy thành dòng qua những nếp nhăn nheo của đôi gò má xương xẩu. Vài tia nắng hắt từ khung cửa sổ đậu lại trên khuôn mặt bà, làm ánh lên hai hàng nước mắt long lanh. Mỗi lần kể chuyện cho tôi nghe bà đều ngồi yên bất động, chỉ có đôi môi mấp máy và cặp mắt nheo nheo như đang hướng về một vùng trời vô định.

Ngoài xa kia, dòng sông Sài Gòn vẫn bình yên trôi lờ lững. Lác đác vài bụi lục bình dập dềnh trôi trên sóng nước. Cánh lục bình làm tôi liên tưởng đến một kiếp người. Người ta không biết lục bình trôi từ đâu đến, và cũng chẳng ai biết rồi cánh hoa kia sẽ dạt về đâu giữa biển trời mênh mông!

Có một thời gian tôi ở trong tình trạng lao đao khi muốn đi tìm cho tương lai của mình một lối đi. Chiều chiều, tôi hay ra đứng bên dòng sông Đồng Nai, ngắm những cánh hoa trôi nổi bồng bềnh. Đem so sánh tương lai đời mình với cánh hoa lục bình, tôi thấy có cái gì đó na ná: mong manh phiêu bạt, rồi sẽ chẳng biết sẽ về đâu? Nhưng rồi cũng đến giai đoạn tôi quyết định hướng đi cho tương lai đời mình. Cánh lục bình cho tôi một bài học quý giá: cuộc đời mong manh và vắn vỏi là thế, nên tôi cần tìm cho mình một Bến Đỗ an toàn và bền vững hơn. Tìm về với Đấng là Cội Nguồn và Cùng Đích của đời tôi. Đó là căn nguyên đức tin của tôi.

Giờ đây, ngồi đối diện với bà – cánh lục bình già cỗi – tôi bỗng nhận ra Đức Tin của mình quý giá biết bao. Vâng, tôi là cánh lục bình giữa cuộc đời mênh mông. Bé nhỏ và long đong, nhưng không chập chờn vô định. Tôi dần học biết được ý nghĩa cuộc đời mình. Tôi dần học biết mình từ đâu tới và sẽ về đâu. Lúc này đây, tôi thấy lòng mình bừng lên ước ao muốn được chia sẻ cho bà niềm tin của tôi về Đấng Tuyệt Đối là cội nguồn và cùng đích của mọi loài. Tôi muốn dùng Lời Ngài để tâm sự với bà rằng: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười”.  Tôi muốn nói cùng bà về sự sống đời sau, về lòng thương xót của Đấng là Tình Yêu… nhưng buồn làm sao, những điều ấy chỉ có thể là ý tưởng! Bà đang ở trong chùa, là tín đồ của Phật giáo! Cái ranh giới Phật giáo – Công giáo tuy mong manh nhưng vẫn là cái ranh giới! Hơn nữa, nhiệm vụ của tôi lúc này, nơi này là làm chứng tá bằng chính hành động chứ không phải là bằng lời nói hay thuyết giảng… Chợt nhớ tới lời của Mẹ Têrêxa Calculta: “Truyền giáo là giúp cho người ta sống tốt với đạo của mình”, tôi hỏi bà:

+ Bà ơi, ở đây bà có hay cầu kinh khấn Phật không?

– Có chứ, tôi ăn chay niệm Phật suốt cả đời mà. Ở trong này mỗi ngày tôi còn được nghe thuyết pháp và giảng giải kinh Phật nữa.

+ Vậy sao bà không dâng hết mọi chuyện vui buồn lên cho Đức Phật?…

– Ừ thì tui buồn tui tâm sự với cậu vậy chứ, không dâng hết cho Phật thì dâng cho ai bây giờ? Có như vậy thì cái tâm mình mới tĩnh được để mà cầu kinh chứ! À, mà cậu có hay cầu kinh không?

+ Dạ, con … không biết, bà chỉ cho con đi!

– Cậu cầu như thế này nè : “Nam mô a di đà Phật, Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Thích Ca Mâu Ni đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn… A di đà Phật

+ Bà ơi, vậy thì thỉnh thoảng bà nhớ cầu Phật cho con với nghen!

– Ừ, .. Nam mô a di đà Phật, cầu cho cậu được bình an may mắn tai qua nạn khỏi. Cầu cho cậu có được người vợ đẹp, sinh cho cậu bảy tám thằng con trai để sau này có chỗ cậy nhờ… A di đà Phật!

Bỗng dưng lúc này tôi cảm thấy mình bé nhỏ vô cùng. Tôi, bà, và mọi người… tất cả đều là những sinh linh bé nhỏ tội nghiệp. Ai cũng cần được Ơn Trên độ trì cứu vớt. Bà cầu Phật cho tôi, còn tôi, tôi sẽ cầu nguyện cùng Chúa cho bà. Đạo là Đường. Chúng tôi đi theo hai con đường khác nhau, nhưng dường như đang nhắm về cùng một đích.

***

Từ hồi còn nhỏ tôi vốn đã không thích chùa lắm. Ở quê tôi, người ta luôn phân định rạch ròi ranh giới giữa Công giáo và Phật giáo, luôn có những cái ranh giới bất khả xâm phạm giữa xóm đạo và xóm chùa, giữa nghĩa trang của Phật giáo và nghĩa trang Công giáo. Trong tâm tưởng của tôi thời thơ ấu, các ngôi chùa với những hàng cột đen bóng, những hình bát quái với mùi nhang khói nghi ngút… dường như luôn mang cái vẻ ảm đạm và u ám. Bây giờ thì tôi mới biết cái u ám đó nằm ngay trong chính thành kiến của tôi.

Tôi đến thăm ngôi chùa này chỉ được vài lần. Thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ để chúng tôi làm quen và được nhiều người quý mến. Cửa chùa thì luôn rộng mở đối với mọi người! Từ sự rộng mở ấy, tôi có cái nhìn đẹp hơn về một tôn giáo bạn.

Ngôi chùa tọa lạc ngay bên cạnh bờ sông, êm đềm và tĩnh lặng. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là pho tương phật bà Quan Âm uy nghi đứng giữa sân. Pho tượng quay mặt nhìn về phía dòng sông đang hiền hòa gợn sóng. Chạy song song với bờ sông là con đường nhỏ phủ đầy bóng trúc được lát gạch tàu phẳng phiu dẫn vào ngôi chánh điện. Vòng sang phía sau ngôi điện thờ là hai dãy nhà nhỏ đơn sơ. Đó là nhà dưỡng lão của chùa, là mái ấm dành cho những người già cả cô đơn không nơi nương tựa.

Nơi đây, tôi đã học được nhiều điều và đọc thấy nhiều giá trị Tin Mừng. Đó là tấm lòng quảng đại từ bi của nhà chùa và các Phật tử hảo tâm. Họ sẵn lòng mở rộng vòng tay để tiếp nhận những người già nua cô độc. Đó là gương phục vụ vô vị lợi của các cô, các dì ở chùa đối với những người già. Họ phục vụ tận tâm từ những người bại liệt, mù loà đến những người già khó tính hay giận hay hờn…

Đặc biệt hơn, nơi những người già bị bỏ rơi, tôi tìm thấy hình ảnh của Đức Kitô nghèo hèn và cô độc, nhưng vẫn đẹp đẽ lạ thường. Họ dẫn tôi đi vào trong một thế giới khác hẳn thế giới mà tôi đang sống. Thế giới của người già chẳng chút ồn ào phức tạp, nhưng giản đơn và chân tình. Mỗi khi hết buổi làm việc chúng tôi chào tạm biệt các bà để ra về, tình cảm quý mến của các bà được thể hiện bằng cách giấm giúi gởi cho chúng tôi những gói quà nho nhỏ, những bọc kẹo, vài trái chuối… Mỗi khi từ chối, dù có khéo léo cách nào đi nữa, tôi vẫn luôn nhìn thấy nét buồn và nỗi hụt hẫng như dâng trào trong mắt các bà. Một lần, khi tôi dắt xe ra đến cổng chùa thì có một bà chạy theo, trên tay bà là vài gói mì tôm và một nải chuối. Nhìn dáng quày quả của bà, tôi xúc động lặng người, và nhận ra một điều quý giá. Con người được sinh ra không chỉ cần được yêu thương, nhưng cần có người để cho họ yêu thương. Điều ấy càng đúng với một người làm bà, làm mẹ. Thật nhẫn tâm nếu tôi lại từ chối tấm lòng của các bà, từ chối để cho mình được yêu thương!

Cũng nơi những người già này, tôi học được cái nhìn về cuộc đời đầy kinh nghiệm và đầy triết lý nhân sinh. Một lần nọ, khi đang lom khom cắt móng chân cho một bà cụ thì bà hỏi tôi “Con đạo Phật hay đạo Công giáo?”. Tôi ngước lên nhìn bà và chỉ mỉm cười. Như hiểu ý tôi, bà tiếp : “Ừ, thì bà hỏi thế thôi! đạo nào cũng tốt hết con à! Đạo nào cũng dạy mình lo làm việc lành để tích đức cho kiếp sau. Ham hố gì đâu trong cái cuộc đời phù sinh này chứ!”…Rồi bà cho tôi xem mấy tấm hình của bà chụp hồi còn trẻ “Con thấy không, hồi đó là cô thiếu nữ, bây giờ là bà già xương bọc da. Cứ tưởng như mới ngày hôm qua, vậy mà… đúng là kiếp phù sinh”. Rồi bà lên giọng ngâm nga:

Kiếp phù sinh như hình như ảnh

Có chữ rằng vạn cảnh giai không.

Ai ơi lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Vâng, nơi đây tôi nhìn thấy cái mong manh, phù sinh của cuộc đời. Tâm sự với nhiều người, tôi thấy các bà ai cũng đã có một quá khứ với nhiều ước vọng cao xa, từng vật lộn với cuộc sống, từng muốn thu gom tích góp cho mình… nhưng rồi cũng đến thời gối mỏi lưng còng, đành buông xuôi tất cả, trả lại cho cuộc đời tất cả.

Họ lấy Phật làm lòng, tu thân tích đức để mong thoát khỏi luân hồi số kiếp. Còn tôi, tôi có Chúa là Nguồn Ơn Cứu Thoát. Thái độ cung kính và thành tâm của họ dành cho Đức Phật khiến tôi phải chạnh lòng khi đặt lại tương quan giữa mình và Chúa. Chúa của tôi đáng yêu và gần gũi biết bao! Chúa biết rõ những yếu đuối của kiếp người. Chúa biết tôi không thể tự mình vươn lên để thoát khỏi vòng tục luỵ. Chúa không để tôi phải một mình đối chọi với cuộc đời, cũng không tính sổ với tôi sòng phẳng theo kiểu trả công cho tôi dựa vào những “công đức” tôi làm được. Mọi sự có là gì đâu trước mặt Chúa! Chúa cúi xuống nâng tôi lên khi tôi cùng lùng bùng trong lũng lầy của cuộc sống. Tất cả là hồng ân. Tất cả là ơn nhưng không của Chúa… Vậy mà đã bao lần tôi thờ ơ lãnh đạm. Tôi thả hồn theo những mơ mộng phù du của cuộc đời. Thậm chí, tôi còn chỉ muốn dựa vào sức mình để bơi lái chèo chống nữa.

Cám ơn nhà chùa đã rộng tay đón tiếp chúng tôi. Cám ơn các bà đã tin tưởng và yêu mến chúng tôi. Cám ơn Chúa đã cho tôi một môi trường tông đồ tuyệt vời để nhìn ra Chúa nơi mọi người, mọi sự.

Ba Sông 12.2003

Cao Gia An, S.J.

Previous Older Entries

%d bloggers like this: