Chương II: Người đi bên lề hạnh phúc

“Còn người bạn Chú Rể
đứng bên cạnh nghe Chàng
thì vui mừng hớn hở”
vì được nghe tiếng Chàng.
Đó là niềm vui của tôi
Niềm vui ấy giờ đã nên trọn vẹn

(Ga 3,29)

5. Nhân vật GIOAN TẨY GIẢ

Vùng hoang địa, bên bờ sông Giođan, năm 30

Dân chúng gọi tôi là Gioan Tẩy Giả. Họ đến để xin tôi làm phép rửa. Có vẻ như tiếng gào của tôi đã vươn đến tai và đã chạm đến lòng của một số người. Vậy là họ tìm đến tôi, trong vùng hoang địa, bên bờ sông Giođan. Họ đến để lắng nghe và để bày tỏ lòng sám hối. Họ đến để thoả khát mong được tắm gội và tẩy rửa. Để được sạch. Để được trong. Để bỏ lại sau lưng quá khứ hằn sâu dấu tội đời. Để bước vào một cuộc sống mới.

Tôi đón họ như đón chính khát vọng của đời mình. Họ như đàn chiên không người chăn dắt. Tâm hồn họ bơ vơ đói khát. Cuộc đời họ lầm than tản lạc. Họ cần một nơi bám tựa. Họ cần một con đường để đi, cần ai đó chỉ cho họ một con đường để đi.

Tôi đưa đoàn dân đến bên dòng nước của sông Giođan. Tôi muốn mời họ sống lại biến cố sinh thành đặc biệt của cả dân tộc chúng tôi. Để họ cũng được sinh ra thêm lần nữa.

Ngày ấy, tổ tiên của chúng tôi đã trầm mình trong dòng nước này, băng qua con sông này, để trở thành một dân tộc. Bên kia sông, họ là những người đi tìm lời hứa của Đức Chúa. Họ đã sống bốn mươi năm trong sa mạc từ khi ra khỏi đất Ai Cập. Họ lang thang trong số kiếp của những người nô lệ chạy trốn. Lạc lõng và bấp bênh. Lầm than và nghèo đói.

Cho đến khi họ được dẫn đến với dòng sông này.

Họ trầm mình trong dòng nước để gột rửa. Để bỏ lại sau lưng quá khứ lầm than cơ cực. Để chết đi trọn vẹn con người cũ với cõi lòng đầy rẫy những bất an, bất toàn, và hay nổi loạn. Để được tái sinh cho một cuộc đời mới… Bước lên khỏi dòng nước, qua bên này sông, họ trở thành những con người tự do trên vùng Đất Hứa chảy tràn mật sữa. Bên kia sông, họ là một đoàn người tản lạc. Bên này sông họ tìm thấy một căn tính rất mới và rất riêng. Họ trở thành một dân tộc, một đất nước, một đoàn dân riêng của Đức Chúa.

Ngày hôm nay, tôi muốn chính bản thân tôi và toàn dân tôi được sống lại kinh nghiệm ấy. Chúng tôi muốn bỏ lại tất cả trong dòng nước này. Để từ nước đi lên, chúng tôi bước vào một cuộc đời mới.

Đáng tiếc, nhiều người lại lầm tưởng tôi là người mà họ mong đợi. Họ cho rằng tôi là Đấng sẽ đến. Họ mong tôi có thể lấp đầy những khao khát thẳm sâu của họ. Họ đâu biết tôi cũng như họ, cũng chỉ là một người mang đầy khao khát và đợi mong. Tôi là người làm phép rửa cho họ. Nhưng trong tôi luôn cháy bỏng khao khát có một ai đó sẽ làm phép rửa cho tôi. Phép rửa ấy không chỉ trong nước, nhưng trong lửa và trong Thánh Thần của Đức Chúa.

Tôi dạy dân tôi dọn lòng khiêm hạ để có thể đón mừng ngày Đức Chúa đến viếng thăm dân Người. Tôi dạy họ về vai trò của tôi, một người dọn đường, một kẻ đi bên lề. Tôi khuyên bảo họ tiếp tục đặt niềm hy vọng nơi Lời hứa của Đức Chúa. Tôi mời họ dọn lòng để có thể sẵn sàng chào đón Đấng Mêsiah của chúng tôi, vị Cứu Tinh được gởi đến bởi Đức Chúa. Vị ấy là Đấng sẽ đến. Trong tương lai chứ không phải từ quá khứ.

Trong dòng nước này, tôi muốn rửa sạch khỏi dân tôi niềm tự hào cố hữu về một quá khứ vàng son vốn đã chẳng còn âm vang gì nơi hiện tại.

Chúng tôi thường được dạy rằng cha ông chúng tôi đã từng có một quá khứ hào hùng, đã từng dựng nên cơ đồ từ hai bàn tay trắng. Điều ấy có thể đúng. Nhưng dù có đúng đến mức nào đi nữa, đâu có ai cứ bám vào cái hào hùng của quá khứ mà sống mãi được.

Có nhiều người trong chúng tôi không biết chờ đợi, vì họ đã bị dìm chết trong niềm tự hào vô lối với quá khứ của cha ông mình. Họ hãnh diện rằng mình là con cháu Ápraham. Họ đâu biết Đức Chúa thậm chí có thể làm cho những hòn đá của hoang mạc thành con cháu Ápraham như họ. Họ đâu biết rằng những kẻ xa lạ còn có thể tìm được chỗ trong nhà của Đức Chúa, trong cung lòng của Ápraham. Còn họ, có khi chính họ lại tự đẩy mình ra bên ngoài. Ôm niềm tự hào với quá khứ mà bỏ qua việc sống những nhiệm vụ của hiện tại, đấy luôn là lỗi lầm lớn nhất của bất cứ dân tộc nào đã từng có một quá khứ vàng son.

Nếu chúng tôi đã từng có một quá khứ tốt đẹp, chúng tôi muốn tựa lưng vào quá khứ ấy để hướng mặt về tương lai.

Do vậy, sứ mạng của tôi không phải là làm cho lòng con cháu quay về với cha ông, không phải là hướng cả dân tộc này cứ ngoảnh đầu về một quá khứ vàng son chỉ còn là dĩ vãng. Tôi là kẻ mang lòng của cha ông trở về với con cháu. Tôi kêu gọi họ đặt trọn vẹn cuộc đời nơi giây phút hiện tại này. Tôi muốn hướng toàn bộ lịch sử của dân tộc tôi về thời điểm cánh chung này. Giây phút quan trọng nhất của lịch sử chúng tôi không nằm trong quá khứ. Giây phút ấy nằm ở tương lai.

Tương ai ấy đã đến gần.

Nước Trời đã đến gần. Rất gần.

Một ngày, tại dòng sông Giođan, tôi được gặp Người.

Điều tôi mong đợi cuối cùng cũng đến.

Điều toàn dân tôi mong đợi cuối cùng cũng đến.

Không ai thật sự có thể vẽ được chân dung của điều mình mong đợi. Cũng không ai có thể biết điều ấy sẽ đến như thế nào. Nhưng nếu đó là nỗi niềm mong đợi chân thành và cháy bỏng, người ta sẽ lập tức nhận ra ngay khi điều đó xuất hiện. Bởi đó là vận mệnh của đời mình. Ấy là một khoảnh khắc diệu kỳ và đột biến. Khoảnh khắc ấy sẽ làm thay đổi tất cả. Trước khoảnh khắc ấy mọi thứ mông lung và chênh vênh, người ta cảm tưởng trong tay mình chỉ là trống không vô định. Sau khoảnh khắc ấy, mọi sự bừng nở và sáng tỏ. Người ta thấy mình có tất cả.

Chính tôi đang sống trong khoảnh khắc kỳ diệu và đột biến ấy.

Người xuất hiện từ trong vùng hoang địa, bên bờ Đông của sông Giođan.

Đó là một sớm mai hồng rực rỡ.

Sau lưng Người là vầng thái dương đang vươn mình lên cao từ giữa lòng sa mạc. Người bước ra từ vầng ánh sáng chói loà ấy, như một Đấng ngự giá mây trời mà đến.

Ngay giây phút đầu tiên tôi đã nhận ra Người. Từ cái nhìn đầu tiên tôi đã biết Người.

Thì ra Người chẳng xa lạ gì với tôi.

Người sinh vào ngày Đông Chí. Lúc ấy, thời gian ban ngày ngắn nhất và thời gian ban đêm dài nhất. Đó là ngày tối buồn và ảm đạm nhất trong năm. Thời điểm ấy, ánh sáng rút lui từ rất sớm để nhường chỗ cho bóng tối. Ngày ấy, ai cũng tưởng rằng bóng tối đã chiến thắng tuyệt đối trên ánh sáng.

Người sinh ra trong đêm lạnh, giữa một cánh đồng hoang vu. Nhưng chuyện kể rằng khi Người sinh ra, cả tinh tú trên trời cũng rộn ràng náo nức. Một Vì Sao rực rỡ chiếu sáng trên vùng trời nơi Người chào đời. Những nhà chiêm tinh phương xa nhận ra Vì Sao ấy từ rất sớm. Từ bên kia đại mạc xa xôi, họ tìm đến để triều bái Người.

Sinh ra từ giữa lòng đêm, nhưng Người mới thực sự là nguồn ánh sáng vĩnh cửu. Sau ngày Đông Chí, bóng đêm từng bước bị đẩy lùi. Đêm mỗi lúc một ngắn hơn. Ngày mỗi lúc một dài hơn. Ánh sáng mỗi lúc một tràn đầy và rực rỡ hơn.

Từ giữa lòng bóng đêm, vầng Mặt Trời công chính vươn lên rực rỡ.

Từ khoảnh khắc đầu tiên, tôi đã biết đích xác chính Người là Đấng mà tôi mong đợi.

Chính Người là niềm hy vọng của toàn dân tôi.

Có một mối dây định mệnh nào đó đã nối chặt giữa Người và tôi, giữa phận số của Người và phận số của tôi, giữa sứ mạng của Người và sứ mạng của tôi. Từ rất sớm tôi đã ý thức được sự nối kết ấy.

Mẹ tôi kể rằng từ khi còn chưa chào đời, tôi đã có thể nhảy mừng trong lòng mẹ chỉ vì cảm giác được sự gần gũi của Người bên cạnh. Hai gia đình chúng tôi thân nhau lắm, vì chúng tôi là họ hàng của nhau. Tôi cất tiếng khóc chào đời trong vòng tay của Mẹ Người. Lúc ấy, Người chỉ mới hoài thai độ ba tháng. Chúng tôi là anh em của nhau. Tôi là người đi trước. Tôi đi trước để dọn đường cho Người.

Phút giây Người đến, tôi cảm nhận được rằng khát vọng cháy bỏng của đời mình đã đến lúc thành toàn viên mãn. Tôi biết, đây là ngày tôi mong đợi. Chính tôi sẽ được Người làm phép rửa. Chính Người sẽ dẫn tôi vào hành trình của một cuộc sống mới. Chính Người sẽ chỉ cho tôi cách tiếp tục sứ mạng ơn gọi của cuộc đời tôi.

Nhưng Người lại muốn điều ngược lại.

Người muốn tôi làm phép rửa cho Người. Người đặt mình vào hàng của những tội nhân. Người chung chia với những con người đang bơ vơ lạc lõng trên hành trình tìm kiếm Đức Chúa của họ.

Vậy là Người bước xuống dòng nước. Người trầm mình trong dòng nước. Cả đất trời như chìm vào dòng nước của tôi. Mọi thứ như ngừng lại trong giây phút ấy. Người bước xuống dòng nước, không phải để được dòng nước tẩy rửa và thánh hoá. Chính Người thánh hoá dòng nước ấy.

Thì ra lịch sử không phải là những gì đã diễn ra và đã trôi qua. Đây mới là phút giây lịch sử. Lịch sử mới bắt đầu từ giây phút này. Hành trình cuộc đời mới của chúng tôi chỉ mới bắt đầu từ giây phút này.

Khi Người vừa lên khỏi nước, tôi thấy như Người đã trở thành một con người khác, một con người mới.

Tôi thấy như cả tầng trời mở ra.

Vậy là sứ mạng của tôi đã hoàn tất. Nước Trời của tôi đã đến rồi.

Để làm tròn nhiệm vụ của một kẻ tiền hô, tôi hướng về Người và cất cao giọng loan báo với toàn dân trong niềm hạnh phúc vô bờ: “Đây là Chiên Thiên Chúa!”

Cao Gia An, S.J., Trích Tiểu Thuyết Vượt Qua, nxb Đồng Nai 2025, 31-37

Chương II: Người đi bên lề hạnh phúc

“Còn người bạn Chú Rể
đứng bên cạnh nghe Chàng
thì vui mừng hớn hở”
vì được nghe tiếng Chàng.
Đó là niềm vui của tôi
Niềm vui ấy giờ đã nên trọn vẹn

(Ga 3,29)

4. Nhân vật GIOAN TẨY GIẢ

Vùng hoang địa, bên bờ sông Giođan, năm 30

Tôi sinh ra vào một ngày Hạ Chí.

Đó là ngày rực rỡ nhất trong năm. Ngày ấy, ánh sáng chiến thắng tuyệt đối trên bóng tối. Vầng mặt trời chói lọi vươn đến đỉnh điểm cao nhất của bầu trời phương Bắc. Ngày kéo dài như thể không bao giờ kết thúc, và đêm trì hoãn tưởng như chẳng bao giờ ập đến. Ngày ấy là biểu tượng của huy hoàng và rực rỡ. Ngày ấy người ta ăn chơi, vui mừng, và nhảy múa. Để cuồng say hoan lạc với ánh mặt trời. Để tiễn đưa một mùa ánh sáng. Cũng là để chuẩn bị cho đời mình bước vào một mùa bóng tối phủ vây và hoang lạnh.

Tôi được sinh ra trong tuổi già của mẹ. Khi cung lòng của một người hiếm muộn đã héo hon, mẹ vẫn không từ bỏ niềm cậy trông vào Đức Chúa của cha ông chúng tôi. Sự hoài thai của tôi trong cung lòng hiếm muộn già nua của mẹ là một phép lạ nhiệm mầu. Phép lạ ấy khiến cha tôi phải hoàn toàn câm lặng.

Vốn là một tư tế thuộc dòng dõi Lêvi, cha tôi được kể vào số ít ỏi những người có đặc quyền được bốc thăm mỗi năm để có thể vào dâng hy lễ cho Đức Chúa trong Cung Cực Thánh của Đền Thờ. Cha tôi là người chuyển cầu. Từ giữa lòng đời, ông mang những ước nguyện và hy lễ của toàn dân dâng lên Đức Chúa. Rồi từ Cung Cực Thánh, ông mang phúc lành của Đức Chúa đến với toàn dân.

Cha tôi sống như một trung gian chuyển cầu để mang phúc lành đến cho người khác. Nhưng chính bản thân ông đã đành chấp nhận sống gần hết cuộc đời như một dấu chỉ kỳ lạ của một người không được chúc phúc: một kẻ không có con nối dõi tông đường. Ông đã làm trung gian cho lời nguyện cầu của biết bao người trở thành hiện thực, nhưng lời khẩn nguyện của chính bản thân ông thì Đức Chúa cứ mãi lặng im và trì hoãn. Tôi không biết ông làm sao sống qua những năm tháng đó. Chỉ biết rằng ông đã trung thành cho đến trọn hành trình cuộc đời như một kẻ phục vụ khiêm hạ và tín trung trước mặt Đức Chúa và trước mắt toàn dân.

Với Cha tôi, sự sinh hạ của tôi là một phúc lành nhãn tiền, một dấu chỉ của sự viếng thăm và cứu chuộc Đức Chúa dành cho dân Người. Đức Chúa của chúng tôi là một Thiên Chúa hay đến muộn trước lời khẩn nguyện tha thiết của những người trung tín.

Người ta thường bảo Đức Chúa thử thách. Cha tôi thì tin rằng Đức Chúa đang dạy dỗ và tinh luyện những tôi trung của Người.

Cha đặt tên tôi là Gioan, có nghĩa là “Đức Chúa ban tặng”, “Đức Chúa gia ân”. Cha bảo rằng tôi không phải là phần gia sản của ông, tôi không thuộc về ông. Tôi là một quà tặng đến từ Đức Chúa. Bất cứ một quà tặng nào cũng cưu mang nơi mình một ơn gọi đặc biệt, một sứ mạng đặc biệt. Từ lời chúc phúc của cha trong ngày tôi chào đời, mọi người đều biết rằng tôi sẽ là ngôn sứ của Đấng Tối Cao. Tôi sẽ đi trước Chúa để mở lối cho dân Người.

Từ nhỏ tôi cũng đã tin rằng mình được sinh ra cho một sứ mạng nào đó rất quan trọng. Quan trọng như thế nào thì tôi chưa rõ. Nhưng tôi mường tượng được rằng sứ mạng ấy sẽ gắn chặt cuộc đời và số phận của tôi với cuộc đời và số phận của dân tộc tôi. Suốt cuộc đời mình, cha tôi đã cưu mang toàn dân tộc này trong lời cầu nguyện và đã gánh họ trên đôi vai của ông. Đôi vai ấy giờ đã gầy nhom và yếu nhược. Cha muốn tôi thay ông để tiếp tục làm người chuyển cầu. Nhưng liệu tôi có thể sống cuộc đời của ông được chăng? Liệu Đền Thờ và Cung Cực Thánh có phải là chỗ của tôi chăng? Làm sao tôi có đủ sức để sống cuộc đời đầy ý nghĩa nhưng lại thầm lặng và đơn côi đến kỳ lạ của ông?

Tôi đã khởi đầu cuộc đời mình trong ánh sáng của vầng dương rực rỡ. Tôi được bảo bọc trong những phồn hoa đô hội của vùng phố thị Giuđê và thành đô Giêrusalem. Nhưng chừng như đấy không phải là cuộc sống của tôi. Giữa một thế giới đầy rẫy tiếng ồn ào cuồng loạn của loài người, tôi lại không nghe được tiếng người. Cũng chẳng có người nào nghe được tiếng của tôi. Tôi thấy mình cô đơn giữa phố thị và lạc lõng trong thế giới ấy. Đấy không phải là thế giới của tôi. Và đấy càng không phải là cách mà tôi sẽ sống sứ mạng cuộc đời mình.

Vậy là tôi bỏ phố thị mà đi, mang theo trong tâm tư nỗi niềm khắc khoải của cả dân tộc mình.

Từ rất lâu rồi cả dân tộc của tôi luôn khắc khoải với niềm mong đợi một Đấng Mêsiah. Nhưng không ai được dạy cho cách chờ đợi. Không ai thật sự biết phải chờ đợi thế nào. Mọi người như thể đã ngủ quên và tê lịm trong niềm khắc khoải ấy. Nếu Đấng Mêsiah đến hôm nay, liệu Người có tìm được chỗ nào cho mình chăng? Giữa lòng đô thị Giuđê vốn từ lâu đã ngủ vùi trong niềm thổn thức của một dân tộc bị trị và trong nỗi tuyệt vọng buông thả để tự an ủi mình với những vui thú phù vân, còn chỗ nào cho Đấng Mêsiah được đón nhận không?

Bằng sự khôn ngoan được nhào luyện từ lòng mộ đạo và đời sống đức độ, cha tôi linh cảm rằng thời của Đấng Mêsiah đã đến rất gần. Cha thường nói với tôi rằng thế giới này đã trở nên quá hỗn tạp và trần trụi. Cần phải có ai đó làm người dọn đường cho Người đến. Cần có ai đó có thể mở lối và mở mắt để toàn dân được thấy ơn cứu độ của Người. Nhưng dọn đường như thế nào? Mở lối ở đâu? Làm sao để dân Thiên Chúa mở mắt và mở lòng đón chào thời hồng phúc khi Đức Chúa đến viếng thăm dân Người?

Có một vị ngôn sứ của chúng tôi đã tuyên phán những Lời này của Đức Chúa: “Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con. Người sẽ dọn đường cho con”. Để đến với chúng tôi, Đấng Mêsiah của Đức Chúa cần có một người dọn đường. Con đường ấy phải được mở ra từ sa mạc. Sa mạc giữa lòng đời. Sa mạc của lòng người. “Trong hoang địa, hãy mở một con đường cho Đức Chúa. Giữa đồng không, hãy vạch sẵn một quan lộ cho Thiên Chúa chúng ta.”

Thế nên khi lìa bỏ phố thị, tôi chọn đi tìm cuộc sống của mình nơi hoang địa. Tôi muốn mở một con đường cho Đức Chúa ngay giữa lòng hoang địa. Tôi chọn bắt đầu đời mình bằng tiếng gào từ trong hoang địa: tiếng gào vang lên giữa lưng chừng trời và đất. Cả đất trời này sẽ làm vọng lại tiếng gào của tôi. Tiếng gào bùng vỡ từ lồng ngực của một người trẻ, với ước mong sạt phẳng những đồi cao, lấp bằng những vực sâu, uốn thẳng những con đường quanh co khúc khủy.

Tôi trở thành đứa con của hoang địa. Tôi mặc áo lông lạc đà. Thắt lưng bằng dây da. Ăn châu chấu và uống mật ong rừng. Tôi âm thầm dọn đời mình để có thể bước vào mùa sứ mạng. Tôi cũng âm thầm dọn lòng mình để sẵn sàng đón chào Đấng Mêsiah của đời tôi. Tôi sống trong một Mùa Vọng âm thầm và liên lỉ. Bởi tôi biết, thời kỳ đã mãn. Nước Thiên Chúa đã đến gần.

Không ai hiểu được chọn lựa của tôi. Nhưng tôi xác tín vào con đường mình đang đi. Tôi biết con đường ấy đã được mở ra cho tôi từ lúc hoài thai, từ ngày tôi chào đời.

Tôi được sinh vào một ngày Hạ Chí.

Sau thời khắc ấy, ngày càng lúc càng ngắn dần và đêm càng lúc càng dài hơn.

Từ khởi đầu cuộc đời mình, tôi đã ý thức về sự tàn xế tiệm tiến của ánh sáng và sự bành trướng của bóng đêm. Đời tôi là cuộc hành trình càng lúc càng thu mình nhỏ lại, rút mình vào vùng hoang địa của thinh lặng và bóng tối. Tôi sinh ra không phải để chiếu sáng, nhưng là để chuẩn bị cho một nguồn sáng mới. Một nguồn ánh sáng sung mãn và vĩnh cửu.

Mỗi sớm thức dậy trong cái lạnh đầu ngày, tôi thường gặp thấy mình nơi hình ảnh của hạt sương mai đọng trên những tàng cây của hoang địa. Giọt sương long lanh là nhờ ánh nắng trời. Qua giọt sương sớm long lanh, người ta nhận ra sự hiển lộ của một bình minh mới. Khi ánh nắng vươn lên chính là lúc giọt sương sớm hoàn tất sứ mạng của đời mình, sẽ tan đi với ánh nắng trời. Và vạn vật bắt đầu một ngày sống mới.

Những giọt sương mai buổi sớm cũng mang lại trong tôi âm vọng lời khẩn nguyện của vị ngôn sứ, lời khẩn nguyện tha thiết của toàn dân tôi: “Ngàn mây hỡi, nào hãy đổ sương mai. Tầng trời cao hãy mưa nguồn công chính. Đất mở ra nảy mầm ơn cứu độ. Và đức công minh nảy lộc đâm chồi.”

Cao Gia An, S.J., Trích Tiểu Thuyết Vượt Qua, nxb Đồng Nai 2025, 31-37

1. Vì Sao Cứu Thế (3)

Chương I: VÌ SAO CỨU THẾ

“Từ Phương Đông
chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện
và chúng tôi đến để triều bái Người”.
(Mt 2,2)

3. Nhân vật MELCHIOR

Bên kia sa mạc, năm 00

Chúng tôi theo lối khác mà về. Đường cũ không còn dành cho chúng tôi nữa. Cuộc gặp gỡ định mệnh ấy đã hoàn toàn thay đổi chúng tôi.

Chúng tôi đã vượt qua được chính mình.

Và chúng tôi đã thành những con người khác.

Khác như thế nào thì chúng tôi chưa thể diễn tả được. Không giống như các bậc hiền giả Phương Đông hay kể về tính đột biến của giây phút giác ngộ và khai sáng. Cũng không giống như các nhà thần bí sa mạc hay nói về thị kiến và những giây phút xuất thần. Có lẽ sự biến đổi của chúng tôi đã được thai nghén từ những bước chân đầu tiên trên chuyến hành trình tìm đến với Vì Sao lạ của đời mình. Khi bỏ lại tất cả ở phía sau để lao mình về phía trước, chúng tôi đã không còn là mình nữa. Mỗi bước chân đặt trên chuyến hành trình là mỗi bước đi làm cho chúng tôi trở nên khác.

Tôi là Melchior, một người con gốc Do Thái. Trong cái tên của tôi có một phần gốc gác của cả dân tộc tôi. Melchior là một tên ghép, với hàm nghĩa “Đức vua của tôi là ánh sáng”. Tên ấy phần nào phản ánh những hoài niệm của tổ tiên tôi với vương triều Đavít. Tổ tiên của tôi là người Do Thái lưu đày trên đất Babylon, luôn hoài vọng về một thời dĩ vãng vàng son của vương triều Đavít trên đất Giuđa. Thế nhưng dòng dõi của chúng tôi đã chọn lưu ngụ lại trên đất lưu đày mãi cho đến hôm nay.

Tôi sinh ra và lớn lên trên đất lưu đày. Nhưng vẫn như có một nối kết chưa hề gãy đứt giữa tôi và dân tộc của tôi. Vẫn như có một sợi dây vô hình nào đó bện chặt vận số của chúng tôi và vận số của dân tộc mình. Là những con dân sống trên đất lưu đày, nỗi niềm hoài hương cứ như một chứng bệnh truyền đời truyền kiếp trong lòng chúng tôi. Đất lưu đày đã cho chúng tôi tất cả, nhưng chẳng thể nào làm nguôi thoả nỗi hoài hương của những người con xa xứ. Tôi ra đi là để trở về. Chúng tôi là những kẻ lữ hành hy vọng, trên con đường tìm về quê hương cố xứ. Con đường tơ lụa dẫn chúng tôi đến với xứ sở Giuđa, băng qua Giêrusalem, đến ngôi làng Bêlem nhỏ bé. Lòng dạ tôi đã rung lên bồi hồi sau mỗi nhịp đi. Khi mắt tôi được nhìn thấy mảnh đất của tổ tiên mình, khi chân tôi được chạm vào cội nguồn xứ sở, tôi như đã trở nên một con người rất khác.

Thật ra, không phải chúng tôi là những kẻ tự làm cho mình nên khác. Chính hành trình tìm đến với ánh sao cứu độ làm chúng tôi trở nên khác. Cuộc gặp gỡ với Vì Sao Cứu Thế đã biến đổi trọn vẹn chúng tôi. Khi mắt chúng tôi được nhìn thấy ơn cứu độ Chúa dành sẵn cho muôn dân, chúng tôi biết rằng từ nay cuộc sống của mình đã được lật sang một trang hoàn toàn mới.

Bạn biết không, khi nhận ra trong ngàn vạn ngôi sao giữa trời ánh sáng của Vì Sao lạ có khả năng thay đổi vận mệnh toàn cõi vũ hoàn, chúng tôi đã bỏ lại tất cả phía sau, băng qua sa mạc dặm trường, đối mặt với thử thách hiểm nguy, để tìm theo ánh sao của đời mình. Cả hành trình của chúng tôi như bước đi giữa một mùa rộn ràng lễ hội. Chúng tôi như được hoà mình vào giữa lòng vũ trụ. Chỉ cần ngước mắt nhìn trời, chúng tôi sẽ thấy cả địa cầu đẹp lung linh với ngợp trời sao sáng đang chuyển mình cùng với chúng tôi. Trên nền trời đêm thăm thẳm, vạn ánh sao nhấp nháy như những ánh mắt biết cười nhìn về cõi nhân gian. Ánh sao nào cũng khoác nơi mình vẻ quyến rũ kỳ diệu của cõi trời cao. Mỗi ánh sao đều cưu mang nơi mình một lịch sử dài với những câu chuyện kỳ thú. Nhưng cuối cùng, chính ánh sao lạ đã soi đường dẫn lối cho chúng tôi. Chúng tôi đến một góc khuất trên cánh đồng Bêlem, nơi cưu mang những con người không tìm được một chốn dung thân giữa xã hội phồn hoa của họ. Nơi đó, chúng tôi gặp được Vì Sao của đời mình.

Nguồn sáng của cả vũ hoàn bỗng chốc thu bé lại trong dáng dấp của một Thơ Nhi vừa chào đời nằm trong máng cỏ, giữa chốn hang lừa, trên một cánh đồng mênh mông cô quạnh. Vì Sao từ cõi trời cao đã hạ mình xuống nơi đất thấp. Vì Sao ấy như gom cả ánh sáng của cõi địa đàng đem vào chốn nhân gian. Vì Sao ấy là nguồn sáng vô tận đã tự làm mờ đi chính mình, đem ánh sáng hiển linh tự trời chia cho những con người bé nhỏ rốt cùng trong cõi đất. Phận lọ lem đất thấp bỗng dưng được chung chia nguồn ánh sáng rỡ ràng vinh hiển của cõi trời cao.

Chúng tôi đã thấy Vì Sao của Người xuất hiện từ Phương Đông. Chúng tôi tìm đến để triều bái Người. Và giờ đây, chính mắt chúng tôi đã được nhìn thấy ơn cứu độ Người dành sẵn cho muôn dân. Chúng tôi đã gặp được Người, Đấng có thể thành toàn mọi khát vọng thẳm sâu nhất trong lòng mỗi con người, trong lòng muôn dân tộc trên mặt đất này. Cuộc gặp gỡ định mệnh ấy tưởng là điểm đến, nhưng thật ra lại cho chúng tôi một điểm khởi đầu đầy mới mẻ.

Vậy là chúng tôi bắt đầu một chặng hành trình mới. Gặp được Vì Sao cứu thế của đời mình, chúng tôi mới tin rằng những ánh sao không chỉ có trên cõi trời cao. Luôn có những vì sao ẩn khuất đâu đó trong những ngóc ngách của cuộc đời. Những ánh sao ẩn mình chốn đất thấp, dùng chính ánh sáng của mình để thắp sáng lên một góc khuất nào đó trong tận cùng cõi địa cầu, trong tận cùng thẳm sâu của lòng người. Chúng tôi bỗng thấy cuộc sống này tươi đẹp vô cùng nhờ những con người biết ngẩng mặt nhìn trời, biết đón nhận ánh sáng từ trời, và biết để cho mình trở nên một ánh sao lạ dẫn đưa anh chị em đồng loại của mình trên đường về quê hương Thiên Quốc. Đó là sứ mạng của chúng tôi lúc này, sứ mạng trở nên những ánh sao giữa đời thường để lại thắp lên giữa đời thường nhiều ánh sao sáng ngời rực rỡ.

Có thể bạn sẽ thắc mắc: Người là ai mà có thể thành toàn khát vọng của muôn dân tộc trên mặt đất này? Người là ai mà có thể bứng chúng tôi ra khỏi tháp ngà của những bậc hiền giả Phương Đông để đẩy chúng tôi lên đường? Người là ai mà có thể thay đổi hành trình cuộc đời của chúng tôi, thay đổi trọn vẹn chính vận mệnh của chúng tôi?

Mời bạn cùng theo bước chúng tôi trên hành trình tìm kiếm và khám phá. Biết đâu chính bạn cũng sẽ tìm thấy vận mệnh của cả cuộc đời mình đấy!

Cao Gia An, S.J., Trích Tiểu Thuyết Vượt Qua, nxb Đồng Nai 2025, 42-46.

01. Vì Sao Cứu Thế (2)

Chương I: VÌ SAO CỨU THẾ

“Từ Phương Đông
chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện
và chúng tôi đến để triều bái Người”.
(Mt 2,2)

2. Nhân vật GASPAR

Bên kia sa mạc, năm 00

Vừa rời khỏi kinh thành, Vì Sao lại đột nhiên xuất hiện trước mắt chúng tôi. Lòng chúng tôi mừng vui khôn xiết. Có Vì Sao dẫn lối trong đêm, chúng tôi rời bỏ thành Giêrusalem ồn ào hoa lệ.

Thật kỳ diệu làm sao! Vì sao ấy đã đưa chân chúng tôi như một người bạn thân thiết trong suốt chặng hành trình, nhưng lại đột ngột biến mất tại Giêrusalem. Cho đến khi chúng tôi quyết định rời khỏi thành đô ấy thì Vì Sao lại xuất hiện ngay như lúc ban đầu. Đấy chẳng phải đã là một dấu chỉ quá rõ ràng mà trời cao muốn gởi đến chúng tôi hay sao!

Vua Do Thái không được sinh ra tại kinh thành Giêrusalem. Chốn phồn hoa đô hội không phải là chỗ của Người. Chốn ấy quá ô tạp và bất xứng.

Sự ô tạp và bất xứng của chốn kinh thành ấy được thể hiện rất rõ qua thái độ của vị quận vương Hêrôđê và những người đứng đầu. Chúng tôi không khờ khạo đến độ không nhận ra sự cáo già của vị quận vương ấy. Miệng lưỡi có ngon ngọt như bôi mỡ thì cũng không thể che lấp được cái gian tà láo liên nơi ánh mắt của một con người. Chúng tôi cũng không khờ khạo đến độ đặt trọn niềm tin vào các bậc trí giả của Giêrusalem. Họ là những kẻ khả năng chỉ có hạn, nhưng tham vọng và thủ đoạn thì lại vô biên. Họ dùng chút kiến thức mình có để mưu danh cầu lợi. Họ biết rất rõ những điều được viết trong các sách Thánh của dân tộc họ. Nhưng cái biết ấy chẳng để làm gì ngoài việc trích dẫn và tranh biện. Kiến thức suông biến họ thành những cục đá chỉ đường. Họ chỉ nằm yên một chỗ và chẳng buồn nhúc nhích.

Có lẽ dưới mắt họ, chúng tôi là những kẻ mộng mơ kỳ quặc. Còn dưới mắt chúng tôi, họ chỉ là những xác chết biết chuyển động. Họ không sống cuộc đời mà họ đáng sống. Họ không biết đón nhận phần phúc mà lẽ ra họ đáng được hưởng. Họ tự bọc kín mình trong tháp ngà của tri thức sách vở, của an nhàn tiện nghi do chút địa vị và quyền lực mang lại. Họ không muốn đánh mất những niềm vui tạm bợ trước mắt, nhưng lại không nhận ra rằng chính họ đang đánh mất niềm vui đời đời. Thật ra, họ chỉ là những kẻ lười biếng và nhát đảm!

Dù sao đi nữa, Đức Chúa đã dùng chính họ để tiếp tục soi đường chỉ lối cho chúng tôi. Chúng tôi đọc được ý định của Đức Chúa nhờ ánh sao trên bầu trời. Họ đọc được ý của Đức Chúa nhờ những lời ngôn sứ xa xưa trong Sách Thánh của họ. Những lời ấy đẩy chúng tôi về Bêlem, một ngôi làng heo hút và vô danh vô phận trên rẻo đất này.

Khi nhắc đến cái tên Bêlem, có lẽ các bậc trí giả và quyền thế của Giêrusalem mong đợi một sự nản lòng nơi chúng tôi. Họ nghĩ cái nhỏ bé và vô danh vô phận của nguồn gốc xuất thân sẽ làm mất đi địa vị của Đấng Cứu Thế trong lòng chúng tôi. Họ quên mất rằng chính họ, đất nước của họ, Vương Quốc của họ, thật ra cũng chỉ là một rẻo đất nhỏ bé xa xôi và vô danh vô phận trong mắt chúng tôi mà thôi. Chúng tôi đến từ Phương Đông, nơi được mệnh danh là chiếc nôi sinh thành của những bậc khôn ngoan và của vô vàn những điều bí nhiệm. Nếu muốn tự hào, chúng tôi có lý do để tự hào hơn họ nhiều lắm. Nền văn minh của họ có là gì đâu. Nếu muốn, chúng tôi có thể dạy thêm cho họ rất nhiều điều về lẽ khôn ngoan. Chẳng lẽ họ đã quên mất rằng chính cha ông của họ là những kẻ đã từng phải sống kiếp lưu đày trên xứ sở của chúng tôi? Hay họ không còn muốn nhớ rằng chính tổ tiên của họ đã học lỏm từ chúng tôi rất nhiều kiến thức và mang về xây dựng quê hương đất nước này? Cả ngôn ngữ mà họ đang sử dụng hôm nay cũng là ngôn ngữ của chúng tôi. Vận số mà họ có được hôm nay thật ra chính là ân huệ do bàn tay Đại Đế Kyrô của chúng tôi ban cho từ cả năm trăm năm về trước.

Phần chúng tôi, đã bỏ được cả trời phù hoa của một Phương Đông rực rỡ phía sau lưng, lẽ nào chúng tôi lại không thể bỏ lại một Giêrusalem nhỏ bé để tiếp tục lên đường sao! Thế là chúng tôi lại tiếp bước trên hành trình vượt qua của mình.

Bỏ lại những con người hẹp tài hẹp lượng và cả thế giới sống của họ, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

Bạn biết không, với những kẻ mộng mơ như chúng tôi, khi dám tin vào bầu trời vô biên vô lượng trên đầu mình, thì cả cõi đất này thật ra chẳng khác gì một hạt bụi nhỏ bé và vô danh vô phận. Giữa cõi thiên hà mênh mông, giữa lòng vũ trụ khôn cùng, trái đất này nào có khác chi một hạt bụi mong manh! Có gì kệch cỡm cho bằng niềm tự hào của những con người đang phải bám víu từng ngày trên hạt bụi lửng lơ ấy!

Ấy vậy mà hôm nay cái xó xỉnh vô danh giữa lòng vũ trụ này lại được chính Đấng Tạo Hoá của mình viếng thăm. Vì Sao cứu thế đã xuất hiện. Chúng tôi biết mình đang được sống trong một thời khắc lịch sử vô song, một thời điểm tuyệt diệu và hoàn toàn mới mẻ của sáng tạo. Chúng tôi lên đường đi tìm vị quân vương của mình, Đấng Cứu Độ của mình. Dù Đấng ấy có làm mờ đi vinh quang và dung mạo của Đấng Tạo Hoá nơi thân xác phàm nhân, chúng tôi vẫn tin rằng mình có thể nhận ra Đấng ấy.

Bởi vì bạn biết không, dù chỉ là những hạt bụi vô danh, nhưng chúng tôi là những hạt bụi biết tin vào thiên mệnh. Chúng tôi lên đường tìm tình yêu và vận mệnh của chúng tôi.

Cao Gia An, S.J., Trích Tiểu Thuyết Vượt Qua, nxb Đồng Nai 2025, 37-41.

01. Vì Sao Cứu Thế (1)

Chương I: VÌ SAO CỨU THẾ

“Từ Phương Đông
chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện
và chúng tôi đến để triều bái Người”.
(Mt 2,2)

 

1. Nhân vật BALTHASA

Bên kia sa mạc, năm 00

 

Chúng tôi ngẩng mặt nhìn lên.

Kia rồi! Vì Sao của chúng tôi đã xuất hiện.

Vì Sao ấy đang rực sáng ở trời Tây. Bên kia sa mạc. Tận vùng Biển Lớn.

Vậy là những cố công tìm kiếm của chúng tôi đã không ra vô ích. Vậy là những khôn ngoan tích luỹ từ bao đời hiền giả Phương Đông cuối cùng đã dẫn chúng tôi đến với một dấu chỉ vĩ đại: một Đấng Cứu Độ vừa sinh hạ cho chúng tôi.

Kho tàng khôn ngoan của tổ tiên chúng tôi dạy rằng mỗi con người sinh ra đều có một vì sao chiếu mệnh trên bầu trời. Trời cao là quyển sách khổng lồ mở ra ngay trên đầu chúng tôi. Nhưng chỉ một số rất ít người biết đọc. Rất ít người có khả năng ngước mắt lên cao để học về số mệnh vốn đã được ghi khắc giữa lòng trời. Đồng bào tôi vẫn gọi số ít ấy là những kẻ mộng mơ hão huyền. Cũng phải. Vì đâu có gì mông lung và xa lạ cho bằng những ánh sao trời. Trời đêm thăm thẳm, mông lung, và huyền bí. Những kẻ nghi ngờ không hoàn toàn vô lý khi hỏi rằng: Vô vàn đốm sáng chợt ẩn chợt hiện trên bầu trời thăm thẳm ấy là dấu chỉ về trời cao bí nhiệm, hay đơn giản chỉ là ảo ảnh phù du được đơm đặt bởi sự mộng mơ của những con người mộng mơ?

Có lẽ chúng tôi là những kẻ mộng mơ thật. Chỉ những kẻ mộng mơ mới dám tin vào những gì được lưu lại cho chúng tôi bằng thứ văn tự cổ xưa. Một loại cổ xưa vừa bí nhiệm vừa lạ lẫm. Thế nhưng chính thứ văn tự cổ xưa lạ lẫm và bí nhiệm ấy lại mở ra cho chúng tôi cả một thế giới bao la trên bầu trời.

Càng dấn thân vào con đường mơ mộng này chúng tôi càng ngỡ ngàng vì sự khôn ngoan kỳ diệu của các bậc tiền nhân. Họ phải miệt mài và say mê lắm thì mới có thể lao mình vào con đường tìm kiếm những gì vốn không dễ nắm bắt và làm chủ được. Họ phải bền bỉ và kiên cường lắm để không bỏ cuộc giữa chừng. Họ dạy chúng tôi phải xác tín bằng một niềm xác tín đủ mạnh và phải yêu bằng một tình yêu đủ sâu đối với những kiến thức đã được khám phá bằng mồ hôi nước mắt của bao đời.

Là những kẻ mộng mơ, chúng tôi chia nhau niềm tin rằng trời cao và đất thấp không phải là hai thực tại chia cách nhau. Những biến loạn nơi đất thấp đều có thể được nhìn thấy trước trên quyển sách bầu trời. Chỉ một biến động nhỏ trên bầu trời đã có thể tạo ra vô vàn đổi thay nơi mặt đất. Bạn không tin ư? Bạn có biết tại sao biển cả trên mặt đất này gầm vang dậy sóng? Bạn có biết tại sao con nước nơi mọi sông ngòi kênh rạch trên mặt đất này cứ đều đặn dâng cao tràn bờ? Hãy quan sát mặt trăng. Hãy để ý đến sự tương tác tưởng như vô hình giữa bầu trời và mặt đất. Bạn có biết tại sao mặt đất của chúng ta lúc thì nắng hạn lúc lại mưa dầm không? Hãy quan sát ráng chiều trên bầu trời. Hãy quan sát những quầng sáng bao quanh mặt trăng. Trời cao sẽ mách bảo cho bạn biết. Trời cao có ngôn ngữ của trời cao. Và chúng tôi tin vào thứ ngôn ngữ vô cùng kỳ diệu ấy.

Niềm tin ấy đẩy chúng tôi lên đường.

Nhưng bạn biết không, lên đường là một bước chuyển khó khăn. Rất khó khăn.

Với những kẻ mơ mộng như chúng tôi, không khó để chuyển từ sự hiểu biết sang niềm tin. Chúng tôi biết điều mình tin. Và chúng tôi tin điều mình biết. Nhưng để sống đến cùng điều mình biết và tin lại là một chuyện rất khác. Để sống cho đến cùng hành trình vượt qua của đời mình là một chuyện rất khác.

Từ khi khám phá ra Vì Sao lạ, đã có người trong nhóm chúng tôi trải qua những cơn khủng hoảng và dằn vặt dai dẳng. Vì Sao lạ lấp lánh trên bầu trời đêm như một lời mời gọi bất khả cưỡng kháng. Nhưng thực tại của cuộc sống trước mắt và tất cả những gì chúng tôi đang có tại quê hương mình cũng là một níu kéo không dễ gì buông bỏ. Ai cũng biết rằng mình thật có phúc vì được sống trong thời khắc mà biết bao thế hệ hiền giả Phương Đông đã vô cùng mong mỏi. Ai cũng biết rằng mình phải lên đường theo tiếng gọi của ánh sao. Ai cũng tin rằng lên đường là cách tốt nhất để sống trọn vẹn ơn gọi của những kẻ mơ mộng.

Nhưng rồi chúng tôi chợt nhận ra không phải ai cũng có khả năng sống cho đến cùng điều mình mơ mộng. Trong số chúng tôi, thật ra có những người chỉ dám mộng mơ nửa vời.

Thế là có những người quyết định ở lại.

Và cũng có kẻ quyết tâm khăn gói lên đường như chúng tôi.

Chúng tôi bước đi theo ánh sao sáng dẫn đường.

Đó là một trải nghiệm rất tuyệt vời.

Khôn ngoan của tổ tiên chúng tôi dạy rằng: để đến được với tầm mắt của chúng tôi, ánh sáng của một Vì Sao có khi đã phải băng qua quãng đường dài đến cả hàng trăm triệu năm rồi. Khi chúng tôi nhìn thấy được ánh sáng, chưa chắc gì Vì Sao ấy còn hiện hữu giữa lòng vũ trụ. Điều này làm chúng tôi ngỡ ngàng quá đỗi! Này nhé, bạn thử tưởng tượng xem: để nói với chúng tôi bằng ánh sáng của Vì Sao lạ hôm nay, Đấng Khôn Ngoan Vô Cùng là tác giả của bầu trời trên đầu chúng tôi đã phải có một chương trình được chuẩn bị từ hàng trăm triệu năm trước. Vì Sao ấy toả rạng và gởi sáng đến chúng tôi chính xác vào thời khắc này chứ không phải bất cứ lúc nào khác, tại nơi này chứ không phải bất cứ nơi nào khác. Ấy là Vì Sao không thể lầm lẫn với bất cứ ngôi sao nào khác.

Chúng tôi ngước mắt nhìn ánh sáng của Vì Sao trên đầu như chiêm ngưỡng một kỳ quan huyền diệu. Để cho cuộc đời mình được cuốn đi bởi kỳ quan ấy, đáng lắm chứ!

Chúng tôi hạnh phúc trong niềm hạnh phúc của những kẻ lên đường. Không biết hành trình này sẽ dẫn chúng tôi về đâu. Không chắc chúng tôi có đến được nơi mình muốn đến hay không. Nhưng có hề gì. Đặt chân lên đường, chúng tôi mới khám phá ra rằng hạnh phúc không nằm ở đích đến. Hạnh phúc đi theo từng nhịp chân của chúng tôi. Chúng tôi hạnh phúc vì sống được truyền thống thông thái của tổ tiên mình. Chúng tôi không phải là những người theo đuổi cái biết chỉ để mà biết. Đầu ra của những kiến thức mà chúng tôi theo đuổi luôn là những hành động cụ thể, những chuyến hành trình cụ thể. Với những người hay ngước mắt nhìn trời như chúng tôi, cái biết không chỉ chạm vào đôi mắt để mở ra cho chúng tôi những thế giới kỳ diệu. Cái biết chạm vào trái tim của chúng tôi, khơi dậy rất nhiều say mê. Cái biết còn chạm vào đôi chân của chúng tôi, đẩy chúng tôi lên đường để đi cho đến tận ngọn nguồn của cái biết.

Đêm đêm, khi vạn vật và cả loài người trên mặt đất chìm vào cõi lặng yên, cả vũ trụ mới rộn ràng thức giấc. Quyển sách bầu trời được mở ra trên đầu chúng tôi. Chúng tôi lại gặp Vì Sao của mình. Bước chân của chúng tôi cứ như vậy mà tiến về phía trước. Cuộc đời của chúng tôi cứ như vậy mà trôi đi theo ánh sáng của Vì Sao. Chúng tôi bước đi trong đêm. Vì chỉ đêm về chúng tôi mới biết mình đang đi đâu. Ánh sáng rực rỡ và hào nhoáng của ban ngày dễ làm chúng tôi lạc lối giữa mênh mông sa mạc.

Vì Sao lạ dẫn chúng tôi đi từ Phương Đông đến Phương Tây trên con đường tìm ra Biển Lớn. Đó là hành trình băng qua rất nhiều sa mạc của cuộc đời, băng qua rất nhiều sa mạc trong lòng chúng tôi. Ấy là chuyến hành trình đẩy chúng tôi vượt ra khỏi cái sức ì của chính mình, vượt qua những lo lắng và sợ hãi, vượt qua những ám ảnh của thất bại và lạc lối, vượt qua cả đêm tối của nghi ngờ và muốn bỏ cuộc.

Nhưng rồi Vì Sao ấy đột nhiên biến mất.

Ngay trên bầu trời thành Giêrusalem.

Cao Gia An, S.J., Trích Tiểu Thuyết Vượt Qua, nxb Đồng Nai 2025, 31-37

Như một lời chia tay

 

IMG_0402 2

Chương kết: Trở lại mà nên như trẻ nhỏ

51. Như một lời chia tay

 

Vài ngày trước khi rời đất nước Kenya và Châu Phi, tôi muốn mời tất cả các bạn nhỏ của mình đến chơi và làm một buổi tiệc chia tay. Ben đề nghị:

– Sao chỉ có chơi với tiệc không hả ông Cha? Sao ông Cha không dâng một Thánh Lễ cho cả nhóm?

Đề nghị hay quá, đúng ngay với ý tưởng của tôi. Nhưng tôi phải hỏi lại:

– Dâng Lễ được không? Trong nhóm có nhiều bạn không phải đạo Công Giáo.

– Đâu có sao đâu. Các bạn ấy vẫn thích đi Lễ chung với ông Cha mà. Ông Cha làm Lễ đi, rồi chúc lành cho tụi con…

Vậy là chúng tôi có một Thánh Lễ kết thúc trong căn nhà nguyện nhỏ của cộng đoàn tôi. Thánh Lễ không chỉ có mặt hết tất cả các bạn nhóc, mà còn có cả một số đông bố mẹ của các bạn đến tham dự.

Đầu Thánh Lễ, vừa xuất hiện trong nhà nguyện, tôi nghe các bạn nhỏ của mình ồ lên. Chắc tại thấy tôi mặc áo Lễ đẹp quá đó mà. Chắc các bạn ngạc nhiên vì cái người thường xuyên lăn lên bò lết với mình, đầu tóc thường vương đầy cỏ lá trong vườn, bây giờ lại xuất hiện là một ông Cha đúng chuẩn mực. Chắc các bạn không quen nhìn thấy tôi thế này. Nhưng nhìn ánh mắt các bạn, tôi biết các bạn vui lắm.

Vậy là chúng tôi đã có một Thánh Lễ rất sốt sắng.

Tôi dâng Thánh Lễ để tạ ơn Chúa vì khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng thật tuyệt vời mà tôi được trải qua trên lục địa Châu Phi này. Tạ ơn Chúa đã thương huấn luyện trái tim tôi bằng những đụng chạm rất thật và rất đẹp.

Tôi dâng Thánh Lễ để tạ ơn Chúa vì những quà tặng vô giá mà Chúa đã ban cho tôi ngang qua những con người nơi đây, ngang qua những nét đẹp và cả những giới hạn của nhiều nền văn hoá trên lục địa này.

Tôi dâng Thánh Lễ để cầu nguyện cho các bạn nhỏ của mình. Tôi dâng các bạn lên cho Chúa, tin cậy tín thác trọn cả cuộc đời và tương lai của các bạn trong bàn tay quan phòng từ ái của Chúa.

Kết thúc Thánh Lễ, tôi nhận được từ các bạn nhiều cánh thư, viết trên những mảnh giấy nho nhỏ.

Và bạn thấy đó, ở đây có rất nhiều tình cảm chân thành. Ở đây có rất nhiều sự yêu thương…

Cao Gia An, S.J., Trích “Nhật Ký Châu Phi 2024”

 

 

Một chút gì rất bé

 

IMG_0401

Chương kết: Trở lại mà nên như trẻ nhỏ

50. Một chút gì rất bé…

 

Có hai lần tôi được mời đến ăn tối với gia đình của Ben và Prudence. Căn nhà của họ ở phía bên kia hàng rào… Đó là một dãy phòng liền kề hệt như những căn phòng trọ trong khu phố nghèo. Mỗi “căn nhà” chỉ chừng khoảng hai mươi mét vuông. Gia tài sự sản và tất cả những gì gia đình người ta chắt chiu được đều nằm gọn trong khoảng không gian ấy. Từ trong khu nhà của họ ở nhìn ra, khu vườn nhà tôi bỗng trở nên như một thảo nguyên mênh mông vậy.

Khu vườn tôi ở thật ra là nơi dành cho những người đến tĩnh tâm. Thế nên khu vườn ấy luôn cần có một khoảng thinh lặng nhất định. Bọn trẻ nơi đây lớn lên trong cái khoảng không gian thinh lặng ấy. Với những người lớn đã mệt mỏi với cuộc sống, thinh lặng và tĩnh tâm có một sức chữa lành đặc biệt. Nhưng với bọn nhóc, trải qua tuổi thơ trong thinh lặng là điều gì đó thật kỳ lạ. Im lặng tốt cho người lớn, nhưng ai lại đi bắt bọn trẻ con phải im lặng theo. Thế giới của trẻ con mà không có ồn ào thì khác gì bắt trẻ con phải trở thành những ông cụ non và bà cụ non… Bọn nhóc không hiểu tại sao những người lớn đến chốn này thường cứ im lặng, mỗi người ngồi riêng một góc, chẳng ai nói gì với ai cả. Cũng chẳng ai thèm chơi với bọn nhóc. Mỗi khi bọn nhóc chơi vui quá, lỡ cười to hoặc nói lớn, thì thế nào cũng bị những người lớn nhắc nhở phải giữ thinh lặng…

Ngày thứ ba chơi với nhau, đám trẻ đến trong khu vườn của tôi đã lên tới hơn 20 nhóc. Chúng tôi lăn lê trên cỏ, vừa vỗ tay vừa tập hát những bài đồng dao bằng tiếng Swahili. Một góc sân vườn rộn vang tiếng cười của trẻ nhỏ… Kết quả là sau ngày hôm ấy, tôi bị mấy người lớn càm ràm rằng ông Cha bày trò cho bọn nhóc chơi chi vậy, ồn ào quá, làm ảnh hưởng tới những người tĩnh tâm đang cần thinh lặng. Chẳng hiểu sao bọn nhóc lại nghe những lời càm ràm ấy. Thế là hôm sau, đám nhóc rón rén bước vào khu vườn lúc tôi đang làm việc. Ben dẫn đầu đám nhóc và lên tiếng:

– Hôm qua ông Cha bị la hả? Tụi con xin lỗi. Vì tụi con ồn ào mà ông Cha bị la…

Thái độ rón rén và hiểu chuyện của bọn nhóc thật dễ thương vô cùng. Đã có sức chơi thì phải có sức chịu chứ. Thế nên ông Cha vội lên tiếng trấn an bọn nhóc:

– Không sao, không sao… Ông Cha bị bị càm ràm có chút xíu à. Có bị la thì cũng có sao đâu, miễn là tụi con được vui là được rồi ha… Mà đúng là hôm qua tụi con ồn hơi quá, ông Cha nói hoài mà không được. Tụi con mà nghe lời, trật tự hơn một chút xíu, thì ông Cha đâu có bị la đâu!

Bạn có tin không, kể từ hôm đó đám nhóc trở nên trật tự và dễ bảo hơn rất nhiều mỗi khi chơi với ông Cha. Chừng như đã quen với cái thinh lặng nơi này, nên có khi chỉ cần được chơi với nhau một chút xíu thôi cũng đã đủ cho bọn nhóc ngoan ngoãn và vui cả ngày. Có những hôm bọn nhóc đến chơi ngay lúc tôi đang cần tập trung làm cho xong việc. Sau khi chào hỏi xong tôi đề nghị:

– Tụi con ngồi chơi chờ ông Cha một chút nhé. Ông Cha có việc cần phải làm cho xong…

Vậy là bọn nhóc ngoan ngoãn thinh lặng ngồi đợi. Đợi được một hồi, bỗng có một nhóc rụt rè lên tiếng:

– Ông Cha ơi, cho tụi con mượn Ipad để chơi trong lúc ngồi chờ ông Cha được không?

Đề nghị hợp lý quá, nhưng lại làm ông cha giật mình. Ông Cha hỏi lại:

– Tụi con chơi gì với cái Ipad á?

– Dạ chơi điện tử…

Ông Cha bỗng đâm ra nghĩ ngợi. Nếu chỉ để chơi điện tử với điện thoại hoặc Ipad thì bọn nhóc đã có thể ở yên trong nhà của mình mà chơi, chứ đâu cần phải ra khu vườn tìm ông Cha làm gì. Đã ra tới đây rồi mà còn phải ôm Ipad chơi điện thoại thì tại sao? Tại ông Cha bận. Giống như tại những người lớn thường xuyên bận rộn và không có giờ để chơi với con nít, nên cứ giao cho con nít cái Ipad với cái điện thoại để mình rảnh tay tự do mà làm việc… Nghĩ ngợi vậy làm ông Cha thấy nhột quá, nên hỏi:

– Tụi con thích chơi với Ipad hay thích chơi với ông Cha?

– Dạ thích chơi với ông Cha – Đám nhóc cùng hùa nhau lên tiếng.

Vậy là ông Cha dẹp hết máy tính và sách vở sang một bên để chơi với bọn nhóc. Đã chơi với bọn nhóc thì đương nhiên là phải ồn ào rồi. Đã ồn ào thì chắc thế nào ông Cha cũng lại bị càm ràm. Nhưng chắc không sao…

Có nhiều cách để chơi với bọn nhóc lắm.

Có những lúc tôi để cho bọn nhóc tự chơi, và đặt mình làm người quan sát. Điều kỳ lạ là sau khi chạy nhảy một hồi, thế nào bọn nhóc cũng kết thúc bằng trò đánh nhau. Chỉ là đánh giỡn thôi, nhưng đứa nào cũng tham gia một cách rất hùng hổ và tích cực. Khi bị hỏi: “sao tụi lại con thích đánh nhau vậy? Đánh nhau có gì hay đâu?” Bọn nhóc chỉ cười cười… Ông Cha đề nghị chơi trò gì bớt bạo lực đi. Sau một hồi suy nghĩ, bọn nhóc bắt đầu chơi trò dạy học. Prudence được chọn làm cô giáo và Ben được chọn làm thầy giáo. Thế rồi sau một lúc, lớp học lại kết thúc bằng cái cảnh cả đám học trò phải nằm xuống phơi mông ra cho thầy cô cầm roi đánh. Tôi mường tượng nhận ra rằng hình như bọn nhỏ chỉ bắt chước những gì người lớn hay làm thôi. Có điều gì đó như là tổn thương vì bạo lực đã ghi khắc trong tâm thức của những người dân nơi đây. Thế nên những đứa trẻ con của họ cứ hướng về những trò chơi bạo lực như một xu hướng thật tự nhiên… Khi được hỏi: “lớn lên tụi con muốn làm gì?”, rất nhiều đứa nhỏ trong nhóm của tôi đã nhanh nhảu trả lời ngay: lớn lên con muốn được đi lính, để được cầm súng bắn!

Sau một thời gian chơi với tôi, bọn nhóc rút ra được bốn nguyên tắc quan trọng. Cả nhóm phải cùng nhau đọc to mỗi khi bắt đầu bất cứ một trò chơi nào:

– Thứ nhất: Be kind – tử tế!

– Thứ hai: Be respectful – tôn trọng người khác!

– Thứ ba: Be peaceful – bình an, nhẹ nhàng, không bạo lực!

– Thứ tư: Be good – tốt bụng!

Tôi không biết bọn nhóc có hiểu hết những điều mà chúng phải đọc thật to như là lời tuyên hứa ấy không. Tình thương và sự quý mến bọn nhóc dành cho tôi thì rất rõ. Nhưng nói thật, tôi không biết mình có thật sự làm được điều gì cho bọn nhóc không nữa. Mỗi khi đi chơi với tôi, bọn nhóc trở nên ngoan ngoãn và rất dễ nghe lời. Nhưng thời gian tôi ở đây với bọn nhóc ngắn quá. Làm sao để thay đổi được cái ước mơ lớn lên đi lính để cầm súng bắn?

Sau một tuần chơi với nhau, tôi bắt đầu mang ra “vũ khí” của mình để dạy bọn nhóc là 1 cây đàn guitar, 1 cây kèn Harmonica, và 1 chiếc ống sáo. “Vũ khí” thì ít, mà bọn nhóc thì đông. Thế là tôi lại có cơ hội dạy cho bọn nhóc biết trật tự và kiên nhẫn chờ đợi đến phiên của mình chứ không có giành giật ồn ào. Tôi dạy thật kỹ cho Ben và Prudence những kỹ năng cơ bản, rồi để cho hai bạn ấy dạy lại cho các nhóc khác. Khi Ben và Prudence đứng lớp, tôi tranh thủ làm việc của mình, hoặc có khi làm người quan sát và góp ý để tập cho các bạn ấy sự kiên nhẫn và tử tế khi dạy học cho các em nhỏ…

Tôi biết bọn nhóc sẽ nhớ đến mình khi tôi rời đi. Và tôi chọn để lại cho bọn nhóc những điều thật sự đáng nhớ và có thể có một chút hữu ích nào đó cho tính cách và tương lai của bọn nhóc. Dù chỉ là một chút gì rất bé…

Cao Gia An, S.J., Trích “Nhật Ký Châu Phi 2024”

 

Dòng Tên và trẻ em

 

IMG_0398

Chương kết: Trở lại mà nên như trẻ nhỏ

49. Dòng Tên và trẻ em

 

Trong công thức khấn cuối long trọng của các tu sĩ Dòng Tên có hai điều đặc biệt. Điều thứ nhất là lời khấn vâng phục Đức Giáo Hoàng cách tuyệt đối trong những chuyện liên quan đến sứ mạng. Đã có nhiều người biết và cũng đã có rất nhiều người nói về lời khấn này. Điều thứ hai lạ và ít người biết hơn, đó là lời khấn “đặc biệt lưu tâm đến việc dạy dỗ trẻ em”, nằm ngay liền sau ba lời khấn “trọn đời sống khó nghèo, khiết tịnh, và vâng phục”.

Tại sao lại đưa việc dạy dỗ trẻ em vào trong lời khấn cuối cách long trọng?

Từ sau cuộc hoán cải của mình, Thánh Inhaxio Loyola đã chọn khởi đầu cuộc đời mới với lý tưởng sống “cho Vinh Danh Chúa hơn”. Có thể nói rằng cả cuộc đời của một người tu sĩ Dòng Tên được huấn luyện và xây dựng xoay quanh lý tưởng sống này. Thế nhưng làm sao để làm cho Vinh Danh Chúa hơn một cách cụ thể trong những hoàn cảnh sống cụ thể? Vế thứ hai trong lý tưởng sống mà Thánh Inhaxio chọn là “cứu rỗi các linh hồn”. Rồi chừng như lối nói này hãy còn trừu tượng quá, nên sau một thời gian, lý tưởng sống ấy được Thánh Inhaxio diễn tả cách cụ thể hơn nữa, là “mưu ích cho tha nhân”, “giúp đỡ những người thân cận”.

Nhưng “ai là người thân cận của tôi?”. Thắc mắc của người thông luật trong Tin Mừng dành cho Đức Giêsu có lẽ vẫn luôn có giá trị qua mọi thời. Có nhiều cách khác nhau để trả lời câu hỏi này. Những câu trả lời khác nhau sẽ mang lại những định hướng khác nhau cho những hoạt động tông đồ đa dạng của các Dòng tu khác nhau. Trong lối hiểu của Thánh Inhaxio, người thân cận của tôi là những người cần được giúp đỡ nhất cả về tinh thần lẫn thể xác, những người nghèo và bệnh nhân, đặc biệt là những người ít học và ít được giáo dục trong đức tin. Trong số đó, phải đặc biệt kể đến trẻ em.

Có lẽ Thánh Inhaxio không được biết đến như vị tông đồ của giới trẻ như Thánh Don Bosco, hoặc như một vị thánh chuyên lo việc giáo dục trẻ em như Thánh Jean-Baptiste de La Salle. Trong Dòng lịch sử, các tu sĩ Dòng Tên cũng thường xuyên được biết đến như những người tông đồ trí thức hơn là những người dấn thân làm mục vụ giới trẻ hoặc thiếu nhi. Điều này có lẽ đúng với những đặc trưng công việc và sứ mạng mà Dòng Tên được Giáo Hội trao phó. Thế nhưng trong khát mong của vị Thánh sáng lập Dòng Tên, làm “cho Vinh Danh Chúa hơn” cần phải đi liền với “giúp đỡ những người thân cận”. Một người có khả năng phục vụ Giáo Hội với chiều sâu tri thức cần phải đồng thời là một người có khả năng quan sát và chạnh lòng thương những anh chị em bé mọn nhất chung quanh mình, đặc biệt là trẻ con.

Từ khởi nguồn, Dòng Tên đã được biết đến với hệ thống các trường học chất lượng cao. Đối tượng chính được phục vụ trong các trường ấy đều là những người trẻ. Trong một lá thư hướng dẫn việc giáo dục trong các trường Dòng Tên, Thánh Inhaxio đã viết: “…de los ninos hazen los grandes”. Câu này được dịch sang tiếng Anh thật hay: “The boy is father of the man” – “Trẻ con là cha của người lớn”, “trẻ con sinh ra người lớn”. Việc giáo dục trẻ con lúc này được xem như cả một quá trình thai nghén để có thể sinh ra cho tương lai những người lớn trưởng thành. Trong viễn tượng giáo dục của thánh Inhaxiô, mọi sự đều phải bắt đầu từ cái gốc. Và cái gốc rễ của mọi con người đều bắt đầu từ thời chúng ta là trẻ con.

Trong bất cứ xã hội nào, ở bất cứ thời đại nào, trẻ em luôn là những người bé mọn nhất và dễ bị tổn thương nhất. Điều này càng đúng hơn nữa với xã hội của chúng ta hôm nay.

Từ khi vào Dòng Tên và được huấn luyện theo hướng của Dòng Tên, tôi trở thành người thích chơi với trẻ con. Đặt mình chơi với trẻ con, tôi thấy mình là tu sĩ hơn. Trẻ con dạy tôi cách sống đơn sơ và nghèo khó, dạy tôi có một trái tim khiết tịnh để yêu thương, dạy tôi cách vâng phục để đặt mình lệ thuộc.

Tôi nhớ đến những em thiếu nhi đã từng được mình chăm sóc và dạy dỗ. Tôi nhớ đến các em huynh trưởng đã từng được mình huấn luyện và hướng dẫn. Tôi không biết có ai còn nhớ đến mình không. Tôi cũng không thật sự đo lường được giá trị của những bài học mà mình đã dạy thời thơ ấu đối với việc việc xây dựng nhân cách và cuộc đời của các em… Nhưng tôi biết chắc đâu là ảnh hưởng mà các em để lại trong tôi. Sẽ không có gì là quá khi nói rằng thật ra chính các em mới là những người huấn luyện nên tôi. Các em cho tôi cơ hội để sống tình thương của một người anh. Các em giúp tôi dần định hình nơi mình cung cách của một người thầy. Nhờ các em, tôi tập nói và diễn đạt mọi sự bằng một thứ ngôn ngữ đơn giản để ai cũng có thể hiểu được. Đối diện với các em, tôi học được cách không phức tạp hoá mọi vấn đề lên theo kiểu của người lớn. Tôi tập nhìn mọi thứ bằng ánh mắt đơn sơ và trong sáng hơn. Để chơi với các em, tôi cũng tập cho mình kiên nhẫn hơn và yêu thương nhiều hơn…

Thật đáng tiếc là trong thế giới hôm nay của chúng ta, nhất là trong môi trường của Châu Âu và Châu Mỹ, không dễ gì để cho một ông Cha có thể tự nhiên chơi với trẻ con. Có lẽ các bạn hiểu tôi muốn nói đến điều gì, phải không?

Trong khu vườn cổ tích của tôi những ngày ở Châu Phi thường tràn ngập tiếng cười. Là tiếng cười của tôi, của đám trẻ con, và của cả bố mẹ bọn nhóc thỉnh thoảng cũng đến và tham gia hát hò vui chơi với chúng tôi.

Thế rồi có một hôm, tôi nhận được lời chân thành góp ý từ hai linh mục bạn. Họ là những người rất đạo đức và tốt lành. Họ nhắc nhở tôi phải cẩn trọng. Hai Cha ấy một người đến từ Mỹ và một người đến từ Châu Âu. Họ bảo rằng bây giờ mà linh mục chơi với trẻ con thì nguy hiểm lắm. Họ bảo: để cho trẻ con bu quanh mình thì cũng giống như để cho mình bị bao vây bởi những tai hoạ tiềm ẩn, chẳng biết sẽ bục phát lúc nào. Họ bảo: có khi sau này tôi sẽ bị tố tội, sẽ gặp rắc rối và phiền phức…

Tôi nhìn vào ánh mắt chân thành của hai người bạn linh mục dành cho mình. Tôi cũng nhìn vào ánh mắt trong veo của đám trẻ con đang vây quanh tôi. Rồi tôi băn khoăn tự hỏi không biết cái nguy hiểm mà những người bạn mình mường tượng nằm ở đâu?

Tôi là mối nguy hiểm dành cho những đứa trẻ này?

Những đứa trẻ này là mối nguy hiểm dành cho tôi?

Hay điều mà người ta gọi là mối nguy hiểm thật ra đang nằm trong những đầu óc vốn đã bị nhiễm bẩn và tổn thương của xã hội chúng ta ngày nay?

Có ai đó có thể giúp tôi giải gỡ nỗi niềm khúc mắc này được không?…

Cao Gia An, S.J., Trích “Nhật Ký Châu Phi 2024”

IMG_0399

Đám trẻ mọc lên từ khu vườn

 

45

Chương kết: Trở lại mà nên như trẻ nhỏ

48. Đám trẻ mọc lên từ khu vườn

 

Ngày hôm sau, khi tôi đang đọc sách trong vườn thì Ben xuất hiện cùng với một nhóm gần một chục các bạn nhóc nhóc. Đám trẻ xuất hiện một cách đột ngột khiến tôi giật mình, cứ như thể tự nhiên có một đám trẻ mọc lên từ khu vườn vậy. Tôi vừa quay đầu chào, bọn nhóc đã nhao nhao lên:

– Đúng rồi, đúng rồi…

– Đúng gì? Cái gì đúng vậy? – Tôi ngạc nhiên hỏi.

Một cô bé trong nhóm lên tiếng:

– Dạ, đúng là Ben kể rằng trong khu vườn này mới có một ông Cha da trắng mà có nhiều tóc lắm, nhưng không đứa nào tin. Bây giờ thì tụi con đã tin rồi. Chào ông Cha nhiều tóc.

Tôi đưa tay lên sờ đầu tóc của mình. Có nhiều nhặn gì đâu ta. Trước chuyến đi Châu Phi, tôi đã kịp gọt cái đầu tóc cho gọn gàng rồi. Vậy mà bọn nhóc vẫn gọi tôi là ông Cha nhiều tóc. Nhưng rồi nhìn quanh một vòng tôi chợt hiểu ra. Trong đám nhóc đang đứng trước mặt tôi, nhóc nào cũng có rất ít tóc. Tóc các bạn nhỏ này lại xoăn tít lên dính hết cả vào da đầu. Thế nên mấy nhóc khoái đầu tóc Châu Á của ông Cha nhiều tóc là đúng rồi. Thật không ngờ, một cái đầu tóc bình thường của Châu Á cũng có thể trở thành một phương tiện tông đồ hấp dẫn được các bạn nhóc nhóc của Châu Phi đến vậy.

Thế là mỗi ngày khi bọn nhóc đến thăm tôi, sau khi bắt tay chào hỏi nhau, nghi thức tiếp theo mà đứa nhóc nào cũng muốn thực hiện đó là đưa tay… sờ đầu tóc của ông Cha. Không chỉ có thế đâu, những lúc đang ngồi chơi và nói chuyện, thế nào cũng có vài nhóc len lén đưa tay lên đầu tóc ông Cha mà vuốt thử. Kẻ nào vuốt được thì thế nào cũng khoái chí cười khúc khích. Mỗi khi ông Cha giở trò, giả vờ làm mặt nghiêm, hù là ngày mai ta sẽ đi hớt tóc à, thì thế nào cả bọn lại nháo nhào lên năn nỉ: đừng đi, đừng đi cắt, tóc đang đẹp… Có những ngày ông Cha bận làm việc không ra khu vườn chơi, thế nào cả nhóm cũng cử vài nhóc vào làm “trinh sát”, lạng qua lạng lại phòng làm việc của ông Cha để liếc xem ông Cha có còn để tóc không hay đã hớt mất rồi… Mà bọn nhóc đâu có biết, thật ra ông Cha là người dễ động lòng lắm. Thấy cả nhóm thích tóc vậy nên cả nửa năm trời ở Châu Phi ông Cha đâu có nỡ lòng nào đi hớt tóc đâu.

Đám nhóc mọc lên từ khu vườn mang đến cho ông Cha nhiều niềm vui và tiếng cười lắm. Trẻ con nơi này thường ít được chăm sóc. Cai sữa rồi thì cứ tự nhiên lăn lóc mà lớn lên thôi. Hình như ít người lớn nào nơi đây có giờ hay có tâm để chơi với con nít. Vậy nên chỉ sau một buổi chiều đầu tiên để giờ ngồi chơi và tám chuyện với đám nhóc, tôi đã nhận thấy rất rõ sự thương mến và quyến luyến mà bọn nhóc dành cho mình. Kết thúc buổi chiều đầu tiên, cô bé Trini nhỏ tuổi nhất trong nhóm bỗng thì thầm vào tai tôi:

– Ông Cha ơi, hay là ông Cha về nhà con ở đi.

Tôi hỏi lại:

– Về nhà con ở làm gì?

– Về làm ba của con…– mặt cô bé vừa nghiêm túc lại vừa đầy vẻ ngại ngùng.

Cô bé làm tôi ngạc nhiên:

– Ông Cha sao làm ba của con được! Chứ ba của con đâu? – Tôi hỏi lại cô bé.

– Thì ba của con ở nhà của con chứ đâu. Nhưng mà chán lắm! Ba toàn lấy roi đánh con không à. Ba không có chơi với con giống như ông Cha. Ông Cha mà về làm ba của con thì tha hồ mà vui á…

Tới đây thì ông Cha bó tay, không biết phải trả lời cô bé thế nào nữa. Sự đơn sơ và chân thật của trẻ con đôi khi có thể khiến người lớn phải suy nghĩ và nhói lòng là vậy đó.

Hôm sau nữa, khi tôi đang làm việc trong vườn thì bọn nhóc lại đột ngột xuất hiện. Ben là người đầu tiên lên tiếng:

– Ông Cha đang bận làm việc hả?

– Ờ… ông Cha đang bận viết – Tôi trả lời.

Nhìn vào màn hình máy tính của tôi trước mắt, cô bé Prudence trợn tròn đôi mắt của mình lên và thắc mắc:

– Ông Cha viết cái gì hay vậy, viết chữ gì lạ ha?

– Đây là Tiếng Việt – Tôi trả lời.

– Tiếng Việt là tiếng gì vậy ông Cha? – Lần này thì đến lượt cậu bé Kelvin lên tiếng hỏi.

Cả nhóm cũng ngạc nhiên như thể là lần đầu tiên được nghe nói đến một thứ ngôn ngữ có tên là Tiếng Việt vậy. Tôi bèn giải thích:

– Tiếng Việt là cái tiếng người ta nói ở Việt Nam á…

– Ơ, vậy là ở Việt Nam người ta nói Tiếng Việt chứ không có nói tiếng Swahili hay tiếng Anh hả ông Cha? – Ben hỏi lại với sự ngạc nhiên.

– Ừ, ở Việt Nam thì nói Tiếng Việt chứ! – Tôi trả lời chắc nịch.

– Rồi có ai dịch cho họ không ông Cha? – Lần này thì đến lượt cô bé Prudence chen vào, vẫn với đôi mắt tròn to đầy thắc mắc.

– Dịch cái gì á? – Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

– Thì dịch từ Tiếng Việt sang tiếng Swahili á?

– Dịch sang tiếng Swahili để làm chi ta? – Tôi cười tủm tỉm hỏi lại.

– Thì phải dịch qua tiếng Swahili hoặc tiếng Anh thì mình mới hiểu được chứ ha. Nói Tiếng Việt thì sao người ta hiểu nhau được hả ông Cha?…

Đến đây thì tôi lại đành bó tay tập hai vì cái lối suy nghĩa quá đỗi là đơn giản và ngây thơ của các bạn nhóc.

Dù sao đi nữa, đã kể chuyện các bạn làm cho tôi cười thì cũng phải công bằng mà kể lại chuyện chính tôi làm cho các bạn cười chứ ha.

Sau một vài buổi chơi với nhau, tôi nhận thấy các bạn nhỏ của mình thường giao tiếp với nhau bằng tiếng Swahili. Tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ phụ. Chỉ những bạn đã có cơ hội đến trường thì mới có thể nói tiếng Anh cách tự nhiên hơn. Vậy là tôi nảy ra ý muốn học tiếng Swahili từ các bạn, khởi đầu từ những câu những chữ đơn giản. Muốn nói câu gì tôi chỉ cần hỏi bằng tiếng Anh, các bạn dịch sang tiếng Swahili, rồi cứ thế tôi bắt chước các bạn mà lặp lại rồi nói theo thôi. Tôi vốn tự tin mình có khiếu bắt chước mà, nên học ngôn ngữ này chắc sẽ nhanh thôi…

Một lần, sau khi lăn lê bò lết với các bạn đủ mệt, tôi bèn đem vốn liếng tiếng Swahili của mình ra thực tập. Đứng trước mặt tất cả các bạn, tôi dõng dạc nói thật to:

– Nataka kunya (na-ta-ka ku-nha)

Tôi cố gắng phát âm thật to thật rõ, thế mà cả nhóm bỗng phá lên cười như vỡ chợ. Có nhóc còn ôm bụng cười lăn lộn cả trên thảm cỏ. Sau khi đã cười thoả thuê, nhóc Ben mới đến kề miệng tai tôi nói nhỏ:

– Ông Cha nói sai rồi á. Kunywa (ku-nhu-a) chứ không phải là kunya (ku-nha).

– Ủa, vậy hả? Mà hai chữ đó khác nhau chỗ nào ta?

– Khác lắm – Ben gải thích – Kunywa có nghĩa là “uống nước”, còn kunya có nghĩa là… “đi ị” á ông Cha. Ông Cha mệt thì ông Cha muốn uống nước, chứ đâu phải là ông Cha muốn đi ấy ấy đâu, phải không?

Ôi trời đất ơi, cái tiếng chi mà hay thế. Tôi phát âm chỉ thiếu có một nguyên âm “u” ở giữa thôi, mà cái nghĩa tạo ra lại đưa tôi đi xa quá là xa như thế sao. Mà cũng may là tôi chỉ sai trước mặt nhóm bạn nhóc nhóc dễ thương này, chứ đứng giảng trước mặt cộng đoàn mà sai kiểu này thì sao ha?…

Cao Gia An, S.J., Trích “Nhật Ký Châu Phi 2024”

 

Trong khu vườn cổ tích

 

46

Chương kết: Trở lại mà nên như trẻ nhỏ

47. Trong khu vườn cổ tích

 

Trong khoảng thời gian ở Kenya, nơi cư trú chính thức của tôi là một căn nhà nhỏ vùng ngoại ô Nairobi. Căn nhà nhỏ mở ra với một khu vườn rộng mênh mông. Có thảm cỏ, có nhiều cây cối, và có tiếng chim rộn rã suốt ngày.

Tôi là người thích đi, đặc biệt là những chuyến đi mục vụ. Vừa để gặp gỡ con người, vừa để khám phá bao điều đặc sắc của văn hoá xứ này. Nhưng rồi những chuyến đi dài vất vả bắt đầu gợi lên trong tôi cái cảm giác muốn trở về bên ngôi nhà nhỏ, với khu vườn cây và thảm cỏ. Tôi gọi đây là cảm giác nhớ nhà. À, cảm giác nhớ là có thật, nhưng cái sự nhớ ấy không chỉ dành cho ngôi nhà và thảm cỏ. Cảm giác ấy còn dành cho các bạn nhỏ của tôi. Các bạn nhỏ xuất hiện trong khu vườn ấy cách kỳ diệu như trong cổ tích vậy.

Những ngày đầu ở đây, mỗi khi có giờ tôi thường ôm cặp sách và laptop ra vườn để làm việc. Cảm giác thật đã khi được nằm lăn trên cỏ để đọc sách, rồi suy tư, rồi bắt đầu gõ lóc cóc từng con chữ.

Một hôm, dòng suy tưởng và nhịp làm việc của tôi bị cắt ngang bởi tiếng chào của một chú nhóc:

– Hey…

Chú nhóc chui ra từ phía bên kia tường rào. Vừa lóp ngóp phủi cỏ và lá đang vươn dính trên áo mình, chú nhóc vừa giương cặp mắt tròn vo sáng trưng nhìn tôi:

– Hey… ông chú đang làm gì đó?

– Ơ… hello chú nhóc. Chú nhóc từ đâu chui ra vậy? – Tôi giật mình, nhưng cũng kịp trả lời câu hỏi của chú nhóc bằng một câu hỏi.

– Con đến từ bên kia hàng rào. Còn ông chú, ông chú từ đâu đến đây? – Hình như cũng không chịu thua, chú nhóc lại trả lời câu hỏi của tôi bằng một câu hỏi.

Nhìn thấy vẻ tò mò dễ thương của chú nhóc, tôi trả lời theo kiểu vừa thật vừa đùa:

– Ông chú đến từ trong căn nhà kia. Từ trong nhà bước ra ngoài vườn, vậy là tới đây thôi…

– Không phải – Đương nhiên là chú nhóc chẳng hài lòng với cái kiểu trả lời của tôi – Ý của con là từ đâu ông chú đến căn nhà kia, để rồi từ căn nhà kia đi ra ngoài vườn này á?

– Ông chú từ trên máy bay bước xuống taxi, rồi từ taxi bước vào căn kia, rồi từ căn nhà kia bước ra ngoài vườn này á – Tôi vừa trả lời, vừa tủm tỉm cười nhìn chú nhóc.

Ấy vậy mà chú nhóc trợn mắt nhìn tôi:

– Ông chú đi máy bay là bay ở trên trời á? wow….

Câu chuyện của chúng tôi kết thúc bằng cái chữ wow kéo dài của chú nhóc.

Vậy là chúng tôi thành bạn của nhau.

Chú nhóc có tên thánh là Giuse, và tên họ là Benedict. Ở nhà, mọi người thường gọi chú nhóc bằng cái tên ngắn ngủn là Ben. Ben năm nay sắp tròn 13 tuổi. Tôi còn nhớ là hôm gặp gỡ lần đầu tiên ấy Ben đã hỏi tôi một câu hỏi nghe chẳng đâu vào đâu cả:

– Ông chú, trên máy bay ông chú đến đây có nhiều người không?

– Có chứ – Tôi trả lời – nhiều lắm, nhiều gấp mấy chục lần người ở trên Matatu luôn…

– Vậy hả? – Tự nhiên giọng của chú nhóc trở nên háo hức và dồn dập cách bất thường – Ông chú có thấy ai có da đen đen và tóc xoăn xoăn giống con không?

Tôi không hiểu tại sao cậu nhóc lại hỏi tôi như vậy nên đành phải trả lời thật lòng:

– Không có, nhóc à. Máy bay của ông chú đến từ Châu Âu, toàn là người da trắng tóc vàng không à. Chỉ có ông chú này là da vàng tóc đen thôi. Không có ai da đen và tóc xoăn cả.

Tự dưng chú nhóc xụ mặt xuống. Tôi thấy trong ánh mắt của chú nhóc có một nỗi buồn và thất vọng xa xăm lắm. Không biết mình đã nói sai điều gì, tôi đành im lặng và giả vờ tập trung vào quyển sách đang mở ra trước mắt mình vậy.

Im lặng được một hồi, tự nhiên chú nhóc lên tiếng:

– Ba của con hồi xưa đi làm ăn xa, để mẹ con con ở lại nơi này á ông chú. Mẹ nói rằng ba của con đi bằng máy bay. Mẹ nói sẽ có một ngày ba quay trở lại đón con bằng máy bay…

Ben là người bạn đầu tiên của tôi trong khu xóm này. Nhờ có Ben mà tôi quen được với cả một đám nhóc nhóc dễ thương ơi là dễ thương.

Nhưng tôi đâu có ngờ câu chuyện của chúng tôi lại khởi đầu theo cách như vậy…

Cao Gia An, S.J., Trích “Nhật Ký Châu Phi 2024”

 

Previous Older Entries

Design a site like this with WordPress.com
Get started