Mùa Thu Bên Khung Cửa

 

Này em ngồi bên khung cửa
Có thấy mùa Thu đang rơi
Mùa Thu về trên chiếc lá
Vàng phai lem luốc dấu đời

Từng ngày trôi từng chiều rơi
Vẫn em và khung cửa nhỏ
Lần tay tìm trong tiếng gió
Từng ngày xa từng ngày xưa

Thanh xuân qua như cơn mưa
Lưng chừng đời em sũng ướt
Gom về vỗ giấc mơ trưa
Chênh chao bên đời em bước

Này em ngồi bên khung cửa
Đang vá áo hay vá đời
Chiếc lá mùa Thu đang rơi
Vẫn nâng niu từng sợi nắng

Từng sợi mùa Thu lẳng lặng
Dệt vàng trời đất trinh nguyên
Dệt đời em vuông lụa trắng
Còn thơm hương vải tinh tuyền

Này em ngồi bên khung cửa
Có thấy mùa Thu đang rơi?
Tay nâng niu từng sợi nắng
Vá đi em, cả đất trời…

Cao Gia An, S.J. – Roma 10.2018

Advertisements

Kinh Tối

Hồi nhỏ, nếu có ai hỏi nó sợ giờ nào nhất trong ngày, nó sẽ trả lời ngay: giờ kinh tối.

Hồi đó ba má đi làm cả ngày. Tối về cả gia đình mới có dịp gặp nhau trong bàn ăn tối. Ăn tối xong, anh chị lớn thì muốn đi chơi với bạn, mấy đứa nhỏ thì thích xem Tivi, ba thì ngày nào cũng chỉ lặp lại một câu đơn giản: Đọc kinh cái đã rồi muốn làm gì thì làm! Giọng của ba to, và tính của ba cứng lắm, đố đứa nào dám cãi.

Cuối giờ Kinh, ba bắt đầu hỏi thăm chuyện học hành của từng đứa một. Sau đó là chuyện anh chị em ở nhà với nhau ra sao. Đứa nào có gì sai là bị xử ngay tại chỗ. Anh chị em có gì hục hặc thì ba bắt phải xin lỗi nhau ngay trước mặt ba, trước bàn thờ Chúa.

Giờ đứa nào cũng lớn. Mỗi đứa một nơi. Lâu lắm mới có dịp họp mặt gia đình. Tối, vừa ăn cơm xong là mấy đứa cháu nhỏ đã cắm đầu vào điện thoại để chơi games. Mấy người lớn thì vừa gầy sòng đánh bài vừa mở Karaokê hát vang cả nhà. Vui thật là vui. Nhưng vẫn thiếu thật là thiếu.

Ba bây giờ đã yếu, giọng không còn được to và tính không còn được cứng như ngày xưa nữa. Sau giờ cơm tối, một mình ba ngồi riêng một góc để lần hạt.

Tiếng kinh tối của ba chỉ còn lầm rầm, lạc hẳn giữa những ồn ào vui nhộn của đàn con cháu.

Cao Gia An, S.J.


More

Rối…

 

 

Cuối cùng thì ông cũng xác minh được điều mình muốn xác minh: vợ ông đã chết cách đây hơn bốn mươi năm. Ông tìm thấy điều mình muốn tìm sau một thời gian rất dài. Giống như có một viên đá vừa được cất ra khỏi lồng ngực ông. Nhưng lạ quá, lòng ông không nhẹ nhõm tí nào! Có ý nghĩa gì không khi cái chết của một người là giải phóng cho một người khác? Vợ chết, chứng minh rằng phép Hôn Phối đã không còn ràng buộc ông, và ông không bị vướng mắc ngăn trở gì trong cuộc sống với người vợ sau này. Vậy là cái mặc cảm đè nặng trên ông suốt ba mươi năm trời đã được tháo cởi.

Nhưng thực lòng ông không thấy vui.

Người vợ có hôn phối với ông là người mà ông thực lòng yêu thương. Ngày cưới vợ là ngày hạnh phúc nhất trong khoảng thời gian tuổi thanh xuân của ông. Nhưng ngày hạnh phúc thường qua mau. Lấy vợ chưa được tròn một năm thì ông đi lính. Chưa kịp có một đứa cháu để nối dõi cho ông nội, để bà nội ẵm bồng. Chiến tranh không chỉ lấy đi tuổi xuân của ông, chiến tranh còn phá nát niềm hạnh phúc có một mái ấm gia đình mà ông chỉ vừa kịp nhấm nháp. Ông cầm súng lên đường, chiến đấu để bảo vệ cho một quê hương rất rộng, đi hết từ làng này sang làng khác, anh dũng chiến đấu từ chiến trường này sang chiến trường khác. Ông sống sót trở về, thấy làng quê của mình tan hoang đổ nát. Người chinh chiến thì bình an trở về, còn quê hương thanh bình bỏ lại sau lưng đột nhiên biến mất. Xóm làng đột nhiên biến mất. Những người thân yêu nhất của ông cũng biến mất. Ngày trở về, chẳng còn ai đón ông. Chẳng còn ai để ông thăm hỏi tin tức. Xóm làng đổ vỡ lặng ngắt, chẳng còn ai để có thể trả lời cho ông…

Vậy là ông bắt đầu cuộc đời lưu lạc. Không phải vì ông muốn ra đi, nhưng là ông chẳng còn chốn nào để quay về. Ông bắt đầu hành trình tìm kiếm những người thân của mình, như hành trình mò kim đáy bể.

Ông vào sống trong xóm đạo của những người di cư. Họ đạo đức lắm. Họ cũng là những người bị đẩy khỏi quê hương xứ sở như ông, chẳng còn gì để bám tựa ngoài một niềm tin mãnh liệt vào chính Thiên Chúa, Đấng bất biến bất chấp bao biến đổi thăng trầm của thế sự. Tin vào Thiên Chúa bất biến, họ cũng tin rằng sự gì Thiên Chúa đã liên kết là bất biến, loài người không được phép phân ly. Rất nhiều người đã kết luận rằng chuyện của ông không giải quyết được. Trừ phi phải chứng minh được rõ ràng rằng vợ của ông đã chết, chẳng ai có quyền tuyên bố hủy hôn để ông được tự do đi bước nữa với bất cứ một người phụ nữ nào khác nữa theo luật đạo. Ông tin rằng hôn nhân của ông và người vợ trước là do chính Thiên Chúa liên kết. Nhưng chính loài người đã phân ly chuyện mà Thiên Chúa liên kết nơi cuộc đời của ông và vợ ông. Chiến tranh là gì nếu không phải là giải pháp điên khùng cho thất bại trong tương quan giữa người với người, nước với nước, ý thức hệ này với một ý thức hệ khác. Và nạn nhân của nó không chỉ đơn thuần là những kẻ nằm dưới hòm tên mũi đạn… Ông nhận thấy rất rõ mình chỉ là nạn nhân. Nạn nhân không được an ủi không chỉ từ luật đời mà còn theo lẽ đạo.

Sau mười năm trời tìm kiếm trong vô vọng, ông đi thêm bước nữa với người phụ nữ thứ hai trong cuộc đời của ông. Vậy là ông thành kẻ bên lề, bị dạt ra khỏi những sinh hoạt bình thường của giáo xứ. Người ta gọi ông là kẻ bị rối. Ông cũng thấy mình bị rối. Nhưng rối vì cái gì thì ông không thật sự hiểu rõ. Vì không hiểu rõ nên ông cũng không tìm thấy được lối ra cho chính mình. Cũng không ai chỉ cho ông thấy được một lối ra. Bao nhiêu lần nộp hồ sơ để xin cứu xét, nhưng vô vọng, cuối cùng ông nhận ra rằng trường hợp của mình cũng chỉ là một trong vô số những trường hợp được giản lược hóa qua những bộ hồ sơ nằm yên lặng gọn gàng trong một văn phòng nào đó. Biết đâu những người phải thụ lý hồ sơ của ông cũng không tìm được lối ra… Ông mơ hồ nhận thấy chuyện của mình giống như một gút thắt mà chính những người thắt gút cũng không biết phải tháo cởi như thế nào. Vậy thì còn ai có thể tháo cởi được cho ông?

Ông vẫn đều đặn đến nhà thờ. Lúc đầu, ông còn tự cho phép mình ngồi vào bất cứ chỗ nào còn trống, giống như bao nhiêu người bình thường khác. Đến lúc rước lễ, mọi người đứng lên, rời khỏi chỗ của mình, tiến về cung thánh. Chỉ có mình ông phải ngồi lại. Những người ngồi cùng băng ghế mỗi lần đi ngang qua chỗ của ông thì phải lách mình. Lúc đó ông mới thấy sự khác người của mình. Việc ngồi lại của ông trở nên một chướng ngại cho những người có thể đứng dậy tiến lên rước lễ. Ông khao khát được đứng dậy. Ông khao khát được tiến lên, giống như những người chung quanh ông. Nhưng ai cho ông đứng dậy? Ai có thể nâng ông đứng dậy? Không ai cả. Vậy nên ông chấp nhận chọn cho mình một góc thật sâu và thật khuất ở cuối nhà thờ, để có thể lặng lẽ tham gia Thánh Lễ mà không làm cản trở một ai. Ông nhắm mắt cầu nguyện để không thêm tủi thân tủi phận khi thấy những người khác được đứng lên đi rước lễ còn mình thì phải ngồi lại…

Ngày gặp lại một người đồng hương hiếm hoi còn sống sót sau cơn binh lửa, ông nhận được tin cả gia đình ông đều đã chết từ bốn mươi năm trước, vào đêm làng ông bị dội bom.

Ông tưởng cuộc đời mình còn bị thắt gút. Ai cũng tưởng rằng cuộc đời ông còn bị thắt gút. Ai cũng cho rằng ông bị rối trong cuộc đời thứ hai của mình. Ông cũng đã sống như một người bị rối, tin rằng mình bị rối… Người đồng hương lại cho ông biết ông không rối. Cuộc sống hôn nhân ba mươi năm nay của ông lẽ ra phải được xem là không bất hợp pháp. Đảm bảo cho tất cả những điều ấy là cái chết của vợ ông.

Có điên khùng không khi đã có lúc ông đã thà tin rằng mình bị rối, thà chịu rằng cuộc sống hôn nhân của mình lúc này là bất hợp pháp theo lẽ đạo. Vì như vậy có nghĩa là người vợ trước của ông vẫn còn sống, dù là ở một nơi nào đó, với một ai đó. Ông đã chấp nhận mang tiếng rối. Chấp nhận chỗ của mình chỉ là một góc khuất trong nhà thờ mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Chấp nhận rằng mình không xứng đáng lên rước Chúa. Chấp nhận không được hiệp thông trọn vẹn với nhịp sống và nhịp phụng vụ của Giáo Hội mẹ của ông… Ông chịu tất cả, chỉ với một hy vọng mong manh rằng vợ ông còn sống.

Giờ, có người cho ông biết rằng vợ ông đã chết. Là mở toang một khung cửa, hay là đóng sập lại một khung cửa? Là tháo tung một nút thắt đã ba mươi năm cầm buộc cuộc đời ông, hay chỉ đơn giản là chỉ ra rằng cuộc đời ông vốn chẳng có một nút thắt nào? Là tin vui hay tin buồn?

Thương người vợ trước của mình nhiều, ông còn thương người vợ hiện tại của mình nhiều hơn. Là con gái, ai chẳng mong được một lần khoác lên mình bộ áo cô dâu. Ai mà chẳng mong đám cưới của mình được cử hành long trọng trong Thánh Lễ nhà thờ. Nhưng vì thương ông, bà đã hy sinh tất cả. Bà chấp nhận cùng ông chia sẻ tiếng đời dị nghị, cùng ông đi qua bao nhiêu năm cuộc đời mang theo cái gút rối không ai giải gỡ được. Từ một cô giáo lý viên năng nổ trong giáo xứ, bà chấp nhận rút lui vào một góc nhà thờ giống như ông. Vậy là họ cùng nắm tay nhau đi qua ba mươi năm cuộc đời, như một cặp vợ chồng không được hiệp thông trọn vẹn với nhịp sống đạo mà tuần nào họ cũng trung thành tuân giữ, với Giáo Hội mà họ hết lòng yêu mến, với Thiên Chúa mà họ hết dạ kính thờ.

Giờ thì tốt rồi. Nhưng điều tốt sao lại đến muộn quá, liệu còn có ý nghĩa gì không? Ai sẽ trả lại cho họ ba mươi năm, một nửa cuộc đời, để họ có thể bắt đầu lại những tháng ngày không giông bão? Để họ có thể sống lại trọn vẹn hành trình đức tin, không phải của những kẻ đi bên lề…

Ông nhớ đến niềm hạnh phúc nhỏ nhoi đã nuôi sống ông bà trong suốt ngần ấy thời gian. Mỗi năm một lần, vào dịp Tuần Thánh, ông chở bà đi Xưng Tội để sốt sắng dọn mình rước Chúa trong ngày Lễ Phục Sinh. Sau lễ Phục Sinh, họ lại trở về hành trình sống của hai kẻ đi bên lề, chờ Lễ Phục Sinh năm tới. Mỗi lần thấy ông buồn, bà chỉ an ủi bằng một câu đơn giản: thôi anh, s ca ti mình vy ri!

Đã nhiều lần ông tự hỏi mình “số” có nghĩa là gì? Là ý định của Thiên Chúa, hay chỉ là những nhào nặn của bàn tay con người? Phải chăng đã là con người, dù có là những người hết mực tin tưởng vào Thiên Chúa, thì không một ai có thể thoát khỏi những long đong của số kiếp làm người?

Giờ thì tốt rồi. Ông có thể an ủi bà rằng: s ca ti mình không phi như vy! Giờ thì ông sẽ báo với bà rằng họ có thể là vợ chồng đường đường chính chính, danh chánh và ngôn thuận.

Giờ thì ông mới biết mình không bị rối.

Cao Gia An, S.J.

(Tập San Mục Đồng 6, Muối Mặn Gừng Cay)

Kinh Đêm

 

Ta đã thấy giữa đêm trường mù mịt
Chợt bừng lên ngàn đốm sáng lung linh
Ta đã thấy từ lặng im thin thít
Lớp lớp người trẩy hội rộn lời kinh

Ta nghe giữa tiếng gầm gừ cuồng bạo
Vẫn thanh âm ngàn giọng hát du dương
Giữa ngạo ngược đời vần xoay giông bão
Vẫn lung linh vạn ánh nến nghê thường

Ta đã thấy giữa trùng vây giăng bủa
Vẫn vững hiên ngang chí khí kiêu hùng
Ta đã thấy giữa tận cùng đau khổ
Vẫn sáng bừng bừng lòng đạo nghĩa kiên trung

Ta đã nghe từ cõi lòng rạo rực
Tiếng chân đi như sóng dậy trùng trùng
Ta đã nghe trong ngút ngàn thổn thức
Tiếng ngực phập phồng làm núi đá chuyển rung

Ta đã thấy bừng lên từ muôn ngã
Ngàn ngọn nến soi chung một nẻo đường
Từ phân cách chia ly ròng rã
Triệu tấm lòng cùng hiệp nhất yêu thương

Từ tận cõi chân trời xa tít tắp
Bàn tay vươn nắm lấy những bàn tay
Khi triệu con tim đập cùng nhịp đập
Khi thuận lòng người thì trời đất chuyển xoay

Những người con một lòng yêu chân lý
Đã đứng lên trong giông bão phong ba
Vươn ngất ngưỡng, vững như thành như lũy
Xây dựng từng ngày đất tổ quê cha

Và ta thấy ngày bình minh rực rỡ
Từ đêm trường tha thiết những lời kinh
Và ta thấy những mầm non cứu rỗi
Nảy nở âm thầm từ hạt giống niềm tin

Cao Gia An, S.J.

 

Hương Ổi Ngày Xưa…

 

 

Cây ổi nằm giữa vườn nhà ngoại, hơi tụt về phía sau, gần bên vách ngọn đồi. Ngoại nói nhờ những mạch nước ngầm trong lòng đồi mà cây ổi lúc nào cũng xanh lá, trái lúc nào cũng rủng ra rủng rỉnh nhiều gấp mấy chục lần bọn cháu nhà ngoại. Ngoại trồng cây ổi lúc cậu Hai lấy vợ. Cây ổi lớn lên cùng với đứa con đầu lòng của cậu Hai. Tới khi gả chồng cho cô Út, cây ổi đã xum xuê lá cành và tỏa bóng che rợp một góc vườn.

Ai cũng khen ngoại biết chọn đất chọn hướng. Mảnh đất nhà ngoại chỉ là một rẻo, nhưng kéo dài theo thế sơn hoàng thủy bão, sau lưng là núi trước mặt là sông, ai nhìn vào cũng mê. Mỗi sáng, mặt trời mọc lên bên kia bờ sông, con nước như một tấm gương vàng phản chiếu toàn bộ ánh sáng đầu ngày hắt lên khu đất nhà ngoại. Mỗi chiều, mặt trời khuất sau ngọn đồi, cứ như có ai đó đem toàn bộ của cải giấu sau lưng nhà ngoại.

Cậu Ba lấy vợ ra riêng, cất nhà trên cùng mảnh đất. Ngoại ở với cậu Hai trên căn nhà phía Bắc, vợ chồng cậu Ba ở căn nhà phía Nam. Ở giữa là khoảng vườn rau lúc nào cũng xanh tươi mướt rượt.

Hồi cô Út còn chưa lấy chồng, cuộc sống của cả đại gia đình đơn giản và bình yên lắm. Có rau trong vườn, có cá ngoài sông, chỉ cần mang bán phiên chợ sớm thì muốn mua về thứ gì cũng có. Ngoại nói, quan trọng nhất là cả gia đình hạnh phúc vui vầy bên nhau. Đạm bạc thôi, mà đầy tình đầy nghĩa. Những buổi cơm chiều dọn ra giữa sân, cả nhà bày chiếu ngồi quây quần quanh mâm cơm, đầy ắp tiếng cười tiếng nói.

Những đứa cháu dần lớn lên, vườn của ngoại như một khu vườn cổ tích nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cây ổi ngoại trồng bước vào giai đoạn sung mãn nhất. Thân cành tròn trịa chắc nịch, trái căn mọng xum xuê. Thỉnh thoảng vài lớp vỏ bong ra, rơi xuống đất, nhưng dường như chỉ để khoe cái sức sống đang rạo rực ẩn chứa bên dưới lớp vỏ xanh xanh xám xám đầy nhựa sống. Những đứa trẻ lớn lên và vui chơi mỗi ngày nhờ cây ổi ngọt lịm trái. Còn Cô Út thì càng ngày càng đẹp ra nhờ mớ lá ổi. Cứ chiều chiều, ngoại lại mang chiếc rổ nhỏ đi ngắt lá. Từng chiếc lá ổi được ngoại chọn lọc và lau rửa cận thận, rồi cho vào nồi nước đun sôi, để cho Cô Út gội đầu. Mùi hương lá ổi thơm nồng nàn từ nhà dưới lên nhà trên. Nhờ mớ lá ổi tươi rói trên cây, bộ tóc dài của Cô Út cứ càng ngày càng dày mịn và bóng mượt.

_____+_____

Từ ngày Cô Út lấy chồng bên kia sông, mỗi chiều ngoại thôi không hái lá ổi nữa. Lá cây ổi cứ ngày một nhiều lên, xanh, rồi già, rồi khô, rồi rụng đầy một góc sân. Tiếng lá vỡ nghe giòn rụm mỗi độ có bước chân người đi qua.

Mỗi lần về thăm nhà, Cô út hay kể cho mọi người nghe nhiều câu chuyện lạ lắm, về những ánh đèn đêm của phố thị nơi cô đang sống. Cô nói ở nơi đó đêm cũng sáng như ngày, không có cảnh tù mù tờ mờ và buồn thỉu buồn thiu như ở rẻo đất nhà mình. Cô nói ở đó đêm chỉ là cái phông nền, trên đó người ta tô lên những gam màu vui nhộn và sống động khác nhau bằng đủ thứ loại ánh sáng đa màu đa sắc. Cô nói ở đó cuộc sống khác lắm…

Ánh sáng trong lời kể của cô Út thắp sáng trưng cặp mắt của cậu Hai và cậu Ba. Tối tối, hai cậu bắt đầu có thói quen ngóng về thành phố phía xa xa bên kia sông. Ánh đèn đêm cứ chập chờn nhảy múa, vẽ nên bao giấc mơ huyền hoặc quyến rũ.

Một thời gian sau, cậu Hai và Cậu Ba thôi nghiệp làm vườn, dắt nhau qua bên kia sông đi tìm ánh sáng văn minh trong lời kể của cô Út. Ngoại ở lại giữ nhà giữ cháu, giữ vườn rau và cây ổi.

Có vẻ như phố thị bên kia sông mang đến cho gia đình hai cậu nhiều điều mới mẻ. Chẳng bao lâu cả hai nhà đều sáng trưng và vui nhộn vào mỗi tối với ánh đèn Neon và những chiếc Tivi, với dàn loa và mấy đĩa phim đĩa nhạc.

Nhưng cũng từ đó, nhà ngoại bớt hẳn tiếng cười. Không còn những bữa cơm chiều dọn ra giữa sân. Không còn bóng người cùng nhau gánh nước tưới rau vào những sớm mờ sương. Chiều, mặt trời chưa kịp lặn thì đèn đuốc đã sáng trưng và phim nhạc đã huyên náo tưng bừng. Sáng, khi mặt trời lên cao rọi thẳng, những gương mặt xộc xệch ngái ngủ mới bắt đầu thò ra khỏi cửa…

Vườn sau đã không còn những ngồng rau xanh mướt. Chiều chiều, mỗi khi gió về, cả vườn chỉ còn dáng ngoại liêu xiêu với cây ổi đã vào mùa xác xơ trụi lá.

_____+_____

Cậu Hai và cậu Ba vắng nhà thường xuyên hơn. Đi đã vội, về lại càng vội hơn. Ánh sáng từ bên kia sông chừng như đã thắp lên trong lòng hai cậu cơn thèm khát chẳng thể nào dập tắt. Hai cậu lúc nào cũng chộn rộn háo hức, như đã tìm thấy được thiên đường của mình. Nhưng càng ngày hai cậu càng mang dáng vẻ của những kẻ đang bị cái thiên đường mơ ước ấy hút đến giọt máu cuối cùng. Dáng vất vả bận rộn. Người mệt mỏi cáu bẳn. Chỉ có ánh mắt của hai cậu là mỗi lúc một sáng lên, toan tính và tham vọng.

Ngày nọ, cậu Hai về, dắt theo một một thương gia đến thăm nhà. Ông thương gia đánh tiếng muốn mua một phần đất nhà ngoại. Lúc thì ông khen rẻo đất nhà cậu Hai dáng đẹp thế đẹp. Lúc ông lại bảo mảnh đất của cậu Ba bằng phẳng tốt tươi. Hai cậu bắt đầu nhìn nhau bằng ánh mắt của hai đối thủ…

Ngày ngoại còn sống, không nhà nào thành công trong việc mua bán đổi chác mảnh đất của tổ tiên. Nhưng một đường ranh được kẻ thẳng băng ngay giữa miếng đất, hàng rào được xây lên kéo dài từ lưng ngọn đồi ra thẳng đến bờ sông. Ngoại phải ở lại bên nhà cậu Hai, để giữ bàn thờ của ông. Ngày nào ngoại cũng ra vườn sau ngóng về hướng những đứa cháu ở bên kia hàng rào….

Di chúc để lại, ngoại xin được chôn ở ngay chính giữa mảnh đất, đầu quay về núi mặt hướng ra sông. Ngoại nói khi sống ngoại không thể chia làm đôi để cho mỗi người một nữa, khi chết cứ chôn ngoại như vậy để ngoại có thể vòng tay ôm một lúc hai đứa con, một đứa bên tay phải một đứa bên tay trái. Mặt ngoại có thể nhìn về bên kia sông, hướng cô Út đi lấy chồng.

_____+_____

Những căn nhà mới mọc lên cao ngất ngưỡng, dạt về hai đầu mảnh đất, hình như cứ âm thầm mà kèn cạnh nhau chẳng bên nào chịu kém bên nào. Con cái cả hai nhà đều được gởi qua bên kia sông để học hành và sinh sống. Những đứa nhỏ ngày trước còn chơi chung với nhau dưới một gốc ổi, giờ nhìn nhau dửng dưng và nhạt thếch xa lạ.

Mộ của ngoại được dời lên trên ngọn đồi. Phần đất ở chính giữa hai ngôi nhà đã được bán cho ông thương gia năm nào. Một khu nhà máy liên hợp vừa to vừa cao mọc lên ở nơi là vườn rau ngày xưa. Cây ổi đã cỗi cằn nằm phía sau nhà máy, lẫn giữa khu dành cho rác rưới và nguyên liệu phế thải. Cỏ mọc um tùm phủ kín lối đi.

Ngoại ơi,

Con về, tìm lại khu vườn của tuổi thơ, nhưng chỉ gặp hoang tàn và xa lạ.

Con về, tìm lại những anh chị em của con thời thơ ấu, nhưng chỉ gặp những cái nhìn nhạc thếch dửng dưng.

Con đã đi xa rất xa, với giấc mơ đổi đời. Chỉ đến khi mỏi gót quay về, con mới nhận ra rằng giấc mơ ấy nằm ngay tại nơi mình đã rũ bỏ để dứt áo ra đi. Hương ổi ngày xưa chừng như hãy còn lẩn khuất đâu đây…

Nhưng còn có con đường nào cho kẻ trở về? Còn cơ hội nào cho con cháu sống lại những ngày xưa ngọt ngào đầm ấm?

Còn vùng trời nào cho những kẻ tự đánh mất vùng trời của chính mình không?

Cao Gia An, S.J.

Bao Giờ?…

 

 

Bao giờ thì trả lại
Điều không của riêng ta?
Bao giờ thì hoán cải
Con tim thiếu thật thà?

Bao giờ thì đủ lớn
Thôi yêu mượn thương vay
Thôi dùng dằng miễn cưỡng
Bao giờ biết buông tay?

Bao giờ thì mới hiểu
Phù du những bóng mây?
Bao giờ thì chấp nhận
Hợp tan cuộc trần này?

Bao giờ thì đủ lớn?
Có khi chẳng bao giờ!
Con tim đa mang lắm
Làm sao hết dại khờ…

Chẳng bao giờ biết được
Những bao giờ xa xôi.
Cứ yêu Người cái đã
Như bây giờ. Vậy thôi!

Cao Gia An, S.J.

Tiếng Quê

 

N ơi này, ngày xưa ấy
Bờ tre xanh rì rào
Nơi này là giếng nước
Nơi này là vườn rau

Tuổi thơ con bay cao
Theo tiếng diều khát vọng
Với gió thơm ngọt ngào
Với trời thênh thang rộng…

Nơi này, giờ sao ấy 
Cứ tấp nập ồn ào
Nơi này là quán xá
Nơi này là tường cao

Quê mình giờ lên phố
Người chen người chen người
Hồn quê giờ hỗn tạp
Tiếng khóc chen tiếng cười

Con về nằm nghe gió
Còn lẩn quẩn đi tìm
Chừng như trời cũng nhớ
Tiếng quê mình lặng im

Cao Gia An, S.J.

Previous Older Entries